Category Archives: Phong tục – Tập Quán Việt nên biết

Câu Đối Tết.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Câu Đối

Advertisements

Tập quán, phong tục Tết Ta.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
  • Thắp nhang

    1

    Chợ Tết

    Chợ Tết có không khí khác hẳn với những phiên chợ thường ngày trong năm. Mua sắm chuẩn bị cho ba ngày Tết thường không phải để “có cái ăn” mà đó là thói quen, là dậy lên không khí ngày lễ hội. Chợ Tết được bố trí ở những bãi đất rộng, có thể chợ được thành lập ngay nơi chợ thường ngày vẫn diễn ra chuyện bán mua. Nhưng trong chợ Tết, gần như tất cả “món ngon vật lạ” đều được bày bán. Không khí Tết thấm đượm thật sự vào những ngày này bởi cảnh người mua hàng nặng trĩu giỏ.

    Tim hieu phong tuc tap quan trong ngay Tet Viet Nam co truyen

Read the rest of this entry

Người Việt với tập quán: cúng Giao thừa cùng những lễ vật dâng cúng.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Lễ cúng giao thừa ngoài trời gồm: hương (3 cây nhang to), hoa, đèn nến, trầu cau, quần áo, mũ thần linh và mâm lê mặn. với thủ lợn luộc, gà trống luộc, xôi, bánh chưng. Đặt biệt kèm them bắp cải thảo…tất cả được bày lên bàn trang trọng đặt ở trước cửa nhà.

Mâm lễ cúng giao thừa giao thừa phải được chuẩn bị chu đáo, trang trọng với lòng thành kính.

Vào đúng thời điểm giao thừa, người chủ gia đình phải thắp đèn, nến, rót rượu, rồi khấn vái trước án.

Văn khấn có thể viết vào giấy để đọc, sau khi hết 3 tuần hương thì hoá tờ giấy viết văn khấn cùng vàng mã dâng cúng.

Mâm ngũ quả: Chọn hoa quả thờ ngày Tết thì điều quan trọng là nên mua hoa quả chưa chín, nhất là chuối, phải là chuối còn xanh, có vậy nó mới giữ được “phong độ” trong suốt khoảng hai tuần ngự trên tủ, nếu không nó chín rụng, đen thui lại thì rất xấu.

Người Nam, mâm ngũ quả có thể là : Mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ, xoài xanh, một nhành sung, hoặc một thứ quả khác.

Người Bắc, mâm ngũ quả thường là : Phật Thủ (hoặc Bưởi, nếu không có ), nải chuối xanh, cái “râu” ở đầu quả của chúng phải con nguyên, chưa rụng, hình như các cụ gọi là “đầu ruồi” gì ấy mà ) cam sành, hồng, quất. ( Mỗi gia đình đôi khi có thêm thắt một hai thứ quả khác nhau, nhưng cơ bản là phải có Bưởi hoặc Phật Thủ, chuối xanh và quất). Quả “Trứng Gà”, của cây “Trứng Gà”, chứ không phải trứng của con gà đâu đấy nhé.

az24.vn/hoidap

Lễ cúng Giao Thừa, gồm có lễ ngoài trời và trong nhà.

Lễ cúng Giao Thừa ngoài trời : Đây là lễ cúng tiễn vị thần cựu vương hành khiển ( vị thần phụ trách việc coi sóc dân, cai quản hạ giới ) của năm cũ đi, và đón ông mới về . Nên chuẩn bị lễ sẵn trước phút Giao Thừa, đừng để qua giờ Giao Thừa mới bắt đầu bê mâm ra.

Sắm lễ cúng Giao Thừa ngoài trời :

– Gà trống tơ, luộc ( thời xưa còn dùng thủ lợn )
– Bánh Chưng
– Đèn nến
– Vàng mã
– Hoa tươi
– Trầu cau
– Rượu/ trà ( rượu trước, sau đến trà )
– Một chiếc mũ chuồn mua của hàng mã ( giống trong Tuồng Chèo ấy ), chính là mũ để cúng tế vị thần.

Lễ cúng Giao Thừa trong nhà : Là lễ cúng Thổ Công, thần Thổ Công là vị thần cai quản trong nhà. Lễ vật tương tự như cúng ngoài trời, chỉ bỏ mũ chuồn.

Các gia đình thường làm thêm cả món chè hoa cau, chè kho… cúng giao thừa.

Cơm tất niên (chiều 30 Tết), mình cho bạn cái danh sách một số món ăn cổ truyền mình ghi sẵn để đỡ mất công suy nghĩ nên nấu cái gì. Trong mỗi nhóm món ăn, bạn có thể chọn một món, chứ không phải là làm hết tất cả. Trong này mình bỏ món xào, vì nhà ít người, còn đúng ra chúng ta luôn có cả món xào trong ngày Tết, ví dụ xào Bóng (bì lợn nướng giòn) với hoa lơ, cà rốt, thịt bò xào…

Đồ nếp truyền thống :

– Bánh Chưng
– Xôi Gấc
– Chè kho

Các loại Giò :

– Giò lụa
– Giò xào giòn

Các món nộm, salad :

– Nộm Đu Đủ thịt bò
– Nộm rau câu
– Dưa Góp : su hào, cà rốt, dưa chuột… và củ hành muối.

Món Nguội :

– Gà luộc
– Bê tái chanh
– Bắp bò ướp ngũ vị hương, hấp chín
– Bắp bò ngâm mắm

Món chiên, rán :

– Mực ống nhồi tôm, thịt nướng mật ong
– Chả cá Tuyết Hoa
– Chả mực Tuyết Hoa
– Gà rán mật ong, lá chanh
– Nem

Món ninh, hầm :

– Chân Giò ninh măng

– Mọc nấu măng, mộc nhĩ

– Bông Nấm trắng làm từ đậu nành ninh măng, mộc nhĩ

Món nước :

– Miến gà – măng
– Bún sườn – măng
– Bún Thang
– Bún Tôm
– Hoặc một nồi lẩu Cá/ Nấm…

az24.vn/hoidap

Gà luộc cho cơm tất niên hơi khác với gà cúng Giao Thừa. Gà cúng Giao Thừa phải là gà trống non, cúng là chính.

Gà cho cơm tất niên (cơm chiều), thì mục đích là để ăn vì vậy nên chọn gà mái, con nào nhìn bụ bẫm kiểu đã đẻ trứng

Gà rửa sạch, để không còn tí tiết nào làm đục nước. Một củ gừng nướng, một củ hành nướng, đập dập, bỏ vào nồi nước luộc gà. Nước luộc gà phải là nước lạnh, nếu cho nước nóng sẵn, da gà bị nóng đột ngột sẽ co lại, dễ bị rách, nước ngập thân gà. Ban đầu đun cho nồi nước sôi lên, nhưng không để lửa to để nó sôi sùng sục, tính sao cho khi nước sôi, nó sủi một cách nhẹ nhàng thôi, hớt bỏ bọt nếu có, luộc như thế chừng 7- 8”, nếu là gà non, cúng Giao Thừa, nếu là gà mái to, thì luộc lâu hơn một chút, có thể 10” . Tắt bếp, dậy vung để gà ngâm trong nước luộc thêm 5, phút (nếu là bếp than), còn là bếp ga, điện thì nên để lửa nhỏ tí xíu thay vì tắt bếp hoàn toàn và ngâm gà trong nồi. Bởi vì nếu là bếp than, thì người ta đặt nồi gà ra ngoài, không sôi nữa nhưng bên mép bếp nó vẫn giữ nhiệt đủ để gà âm ỉ chín, còn bếp điện và ga, khi mình tắt thì nó nguội hoàn toàn.

Lấy gà ra ngoài, muốn thịt gà giòn thì xả ngay vào nước thật lạnh, để ráo nước rồi bầy ra đĩa.

Khi chặt gà phải để gà thật nguội mới chặt, thì miếng gà mới gọn gàng, sắc nét, còn chặt khi nóng, vừa bị bắn, miếng thịt vừa nhũn, méo mó.

ST

 

Ca dao, tục ngữ địa danh Ba miền. Của: Đinh Công Đức (Nguồn: KBCHN.NET).

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
  

Xem qua đất nước ba Miền
Thấy thương thấy nhớ đất hiền quê choa!
Thân gần tám bó phương xa
Tình yêu sông nước vẫn tràn trong tim!
Chỉ mong thống nhất dân tình ,
Đâu đâu cũng chỉ dân mình Việt Nam.
 
Quảng Thuận ĐXD
Miền Nam – Sài Gòn:

Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa lá
Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi
Buồn tình gá nghĩa mà chơi
Hay là anh quyết ở đời với em?

Read the rest of this entry

Hoành phi thiêng liêng hồn gỗ – Hoàng Công Danh.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 Trong kiến trúc nhà ba gian của người Việt, gian chính giữa là nơi trang trọng nhất, thể hiện khí linh của ngôi thất. Dù là một ngôi chùa, hay đình làng, và kể cả nhà ở của người dân, thì gian giữa vẫn luôn được bài trí cầu kỳ công phu hơn, để tạo tính tôn nghiêm và làm ấm cúng cho căn nhà. 

Chính vì thế, người Quảng Trị gọi gian ấy là “căn bảy”. Có lẽ chữ “bảy” ở đây được hiểu theo nghĩa là chính thất, tức là căn chính.

 

Anh 2_Hoanh Phi treo o nha tho ho Hoang.JPG
Hoành phi ở nhà thờ họ Hoàng

 

Về các làng quê miền Trung, dễ dàng bắt gặp ở hầu hết các đình chùa, miếu mạo đều có những bức hoành phi treo ở phía trên, chính giữa căn bảy. Và một số ngôi nhà của người quê, thường là nhà cổ hoặc nhà có các cụ cao tuổi, cũng treo hoành phi.

Mùa xuân này, tôi có dịp tìm hiểu về hoành phi ở chính trên mảnh đất quê nhà của mình, đó là làng Phúc Lộc (huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).

Hồn dân tộc

Là thế hệ hậu sinh, tôi thường tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc bằng cách cầu thị ở các cụ lớn tuổi. Tôi nhớ cụ ông ở làng đã từng nói rằng, các cháu học nhiều, đọc nhiều, nhưng nếu muốn tìm hiểu về nét đẹp cội quê làng mạc thì không gì bằng đi hỏi các cụ cao niên. Bởi các cụ đều là những người đã từng được các bậc tiền bối dạy cho, lớp trước truyền lại đời sau, truyền miệng thôi chứ không có văn tự gì ghi lại, thế nhưng giàu có lắm, hiểu sâu lắm cháu ạ!

Cụ cho biết, chuyện treo hoành phi có từ lâu đời rồi. Ngày xưa khi chưa có bê-tông vôi vữa xây đặt, đình làng chỉ là tranh tre nứa lá dựng nên để thờ các vị thần khai khẩn khai canh, thì bức hoành phi đã có. Hoành phi khi ấy cũng đã được chạm trổ công phu lắm. Người ta coi như đó là vật quý, nếu gió bão có làm sập mái đình, dân làng nhất thiết phải đến thỉnh bát nhang và bức hoành phi đem đặt nơi trang nghiêm. Nói đến đấy, cụ trỏ tay về phía căn thất thờ tự: “Đấy cháu xem. Có cái gì dám treo cao hơn bàn thờ không? Không có, nhất quyết chỉ bức hoành phi mới được treo cao thế thôi”.

Cụ nói thêm, hoành phi không chỉ treo để làm trang trí, làm tôn nghiêm vẻ trang trọng mà còn thêm hai ý nghĩa sau. Thứ nhất, về phương diện vật dụng, hoành phi giống một cái biển chắn gió cho gian thờ tự, che chắn các ám khí (giống kiểu phía trước căn nhà có bức bình phong). Thứ hai, về mặt tâm linh, hoành phi có chức năng giống một lá bùa để trừ tà ma.

Cho đến hôm nay, khi mà các ngôi đình làng, các nhà dân đã được tôn tạo xây dựng kiên cố, nền nhà đóng gạch men sang trọng, thế nhưng những bức hoành phi vẫn được bảo lưu và chữ nghĩa khắc ở trên đó vẫn luôn sáng. Bất cứ ai bước vào căn giữa đều dễ dàng chiêm ngưỡng ngay bức hoành phi cổ kính trang nghiêm.

Hoành phi thường là bản gỗ hình ống quyển mở ra (cuốn thư) hoặc hình chữ nhật, xung quanh chạm trổ hoa văn và hình lưỡng long chầu nguyệt hoặc rồng leo rồng cuốn. Nếu hoành phi chữ nhật thì các góc được chạm hoa văn kiểu chữ Vạn nối nhau (卐). Ở giữa hoành phi đều có khắc chữ, một cụm từ Hán ngữ khoảng ba đến sáu chữ xếp ngang tạo thành một cụm nghĩa. Hoành phi được sơn son thếp vàng theo kiểu tô điểm màu sắc tôn quý của vương triều ngày xưa, nền màu đỏ, một vài họa tiết và chữ sơn mạ nhũ màu vàng.

Anh 1_Pho quang thuong chieu.jpg

Phổ quang thường chiếu – nội dung bức hoành phi nơi điện Phật

Anh 3_Hieu Vi Tien.JPG

Bức hoành phi “Hiếu vi tiên” ở gia đình ông Hoàng Tình, làng Phú Lộc

Chữ khắc trên hoành phi phải là một cụm từ cô đọng, sâu nghĩa, thể hiện niềm khát vọng mong mỏi cho đời sau, hoặc là lời dạy bảo con cháu. Ở làng Phúc Lộc, bức hoành phi treo trong chánh điện ngôi chùa khắc chữ Phổ Quang Thường Chiếu (炤 常 光 普), tức ánh sáng vô lượng (của Đức Phật) luôn tỏa rạng muôn nơi. Bức hoành phi ở nhà thờ họ Hoàng Công ghi Tiên Tổ Thị Hoàng (皇 是 祖 先), có nghĩa Tiên tổ là vua.

Chữ “vua” ở đây không có ý nói bậc đế vương, mà ngụ chỉ đối với con cháu thì Tiên tổ luôn đáng kính nhất. Các bức hoành phi gia đình thì có thể treo ba chữ Hiếu Vi Tiên (先 為 孝), chữ hiếu làm đầu; hoặc Đức Lưu Quang (光 流 德), có nghĩa đức mãi sáng, và cũng là để cầu mong cuộc sống gia đình luôn ấm êm tươi sáng, mọi việc hanh thông.

Những nghệ nhân tài hoa

Xem lại những bức hoành phi cổ ở làng, tôi không khỏi thán phục tài chạm trổ khéo léo của các nghệ nhân xưa. Khi mà việc điêu khắc gỗ còn thô sơ, thế mà nét chạm của họ như đã thổi hồn vào cho gỗ để có được những bức hoành phi kỳ phu. Điều này các xưởng chế biến mộc mỹ nghệ hôm nay, dù áp dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào làm nhưng chưa chắc có được cái hồn cốt và nét thần như thế.

Được biết hầu hết những bức hoành phi cổ còn lại hôm nay ở làng đều do một nghệ nhân chạm trổ, đấy là ông cụ người làng. Hồi còn sống, cụ có mái tóc bạc và chòm râu dài, tướng mạo thanh thoát, trông rất đẹp lão. Cụ sống giản dị nhưng lại cẩn trọng trong nghề chạm gỗ, và cụ theo nghề cho đến lúc mất. Có thể gọi cụ là một nghệ nhân, đằng đẵng miệt mài đam mê gỗ, để rồi những nét chạm trổ từ đôi bàn tay tài hoa ấy đến hôm nay vẫn còn được gìn giữ. Nét chạm sắc sảo, hoa văn mềm mại và kiểu khắc chữ chính xác đến từng nét mảnh.

Chạm hoành phi khác với chạm vật dụng thông thường ở chỗ nó đòi hỏi người thợ phải có vốn liếng cổ thư, như chữ Hán. Bởi lẽ các ông đồ ngày xưa chỉ cho chữ nhỏ trên một miếng giấy. Người thợ phải phác lại chữ Hán đó to hơn vào hoành phi sao cho cân đối với khổ bản. Nếu không giỏi chữ cổ, chỉ cần khắc vụng một nét là bản hoành phi vô nghĩa.

Ở làng Phúc Lộc có anh Hoàng Văn Hùng làm nghề chạm gỗ tại gia đình. Anh cho biết thỉnh thoảng mới khắc hoành phi. Nhưng lần nào khắc cũng đều thấy sợ sợ. Nhiều khi khắc một chữ trên bức hoành phi xong phải nghỉ ngơi đã mới dám khắc tiếp chữ khác. Anh nói, có lẽ mình chưa tới tuổi chạm hoành phi. Năm nay anh mới tuổi bốn mươi, theo anh thì phải ngoại lục tuần mới có thể khắc hoành phi đẹp. Thế mới biết cái nghề chơi với gỗ không dễ, và càng phải rèn luyện nhiều, học nhiều, chú tâm sâu hơn nữa mới mong chạm trổ nên bức hoành phi có thần.

Anh 4_Cham tro Hoanh phi.JPG

Anh Hoàng Văn Hùng đang chạm trổ hoành phi

Anh 5_Thep vang Hoanh Phi.JPG

Công đoạn sơn son thếp vàng

Cũng ở làng Phúc Lộc, xưởng mộc của ông Trần Văn Kiêu rất nổi tiếng về làm hoành phi. Mỗi năm ông được đặt hàng làm khoảng trên dưới ba mươi bức hoành phi. Gần Tết, người ta đặt ông tu sửa hoành phi, sơn son thếp vàng… Cô Nhung con gái ông, hiện đang là sinh viên cũng giúp ông rất nhiều trong công đoạn dán thếp nhũ vàng. Bởi việc dán nhũ đòi hỏi tỉ mẩn và khéo léo, cần một đôi tay mềm để dán nhũ sâu vào trong các chi tiết.

Gìn giữ nét đẹp

Trong các ngày giỗ chạp ở làng hay họ tộc, khi ngồi nhâm nhi chén rượu lộc, các cụ cao niên thường bàn về chữ nghĩa treo ở trên bức hoành phi, cốt là để cho thế hệ hậu bối chúng tôi được hiểu thêm.

Hầu hết giới trẻ thế hệ cháu con đều “mù tịt” về chữ Hán, nhìn hoành phi thì thấy trang nghiêm cổ kính vậy thôi chứ chẳng thể rõ nghĩa. May có các cuộc bàn thảo ấy mà chúng tôi được biết thêm. Các cụ giảng giải theo kiểu của những nhà nho xưa, trước hết đọc rõ từng chữ, sau mới giảng giải cho sáng nghĩa cả cụm từ. Rồi các cụ khuyên dù sau này có tái thiết, tôn tạo đình làng miếu mạo chăng nữa thì vẫn phải giữ các bức hoành phi, bởi đó là một nét văn hóa dân tộc, hồn cốt tinh túy mà người xưa đã trân trọng nâng niu và các thế hệ gìn giữ truyền thừa. Làm sao có thể lãng quên?

Bài, ảnh: Hoàng Công Danh

Tập quán Việt: Đêm Giao Thừa.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Trong đêm giao thừa, người Việt thường có các nghi lễ truyền thống như cúng giao thừa, hái lộc, khai bút, xông đất… Song không phải ai cũng hiểu được các nghi lễ này và thực hiện đúng.1390544049_cung-giao-thua-ngoai-troi2-jpg

Các lễ này thường được tiến hành vào 12 giờ đêm ngày 30 tháng chạp, tức 0 giờ sáng ngày mồng 1 tháng giêng.

– Cúng giao thừa ngoài trời: Người xưa có quan niệm mỗi năm Thiên đình lại thay toàn bộ quan quân trông nom công việc dưới hạ giới, nên có tục cúng giao thừa ngoài trời. Tuy vậy, việc cúng ngoài trời chỉ nên tiến hành ở đình, đền, chùa hay những nơi công cộng. Với gia đình, chỉ nên cúng giao thừa trong nhà.

– Cúng giao thừa trong nhà: Lễ thường được tiến hành vào giờ Chính Tý, tức đúng 12 giờ đêm hôm 30 tháng chạp. Lễ Trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên lễ này còn mang tên là lễ Giao thừa. Ở nhà riêng, ngoài mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên (hay thờ Phật), người ta thường lập thêm mâm cúng để ở cái bàn con bên dưới. Khi thắp hương vẫn cắm trên bàn thờ, chứ không cắm vào mâm cúng.

DSCN7039-JPG-4105-1390634153-7185-139096
Ảnh: Dương Hoàng Hiệp. Read the rest of this entry