Category Archives: Phong tục – Tập Quán Việt nên biết

Đạo thầy trò

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Đạo thầy trò

Quan hệ thầy trò nói riêng về mặt phong tục cũng cần có một tập sách rêng. Để trả lời cho những câu hỏi về đạo thầy trò, chúng tôi thiết nghĩ mấy dòng sơ lược thì chưa thể nào nói cho hết được.

Dân tộc ta vốn tôn sư trọng đạo, dưới chính thể nào cũng vậy. Vai trò thầy giáo luôn luôn tiêu biểu cho tầng lớp trí thức, tiên tiến được toàn thể xã hội công nhận. Nghề giáo vốn là nghề cao quí nhất. Nền giáo dục thời phong kiến cũng như thời dân chủ đều thống nhất một phương châm “tiên học lễ hậu học văn” “nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”… Nhân tài phục vụ xã hội, điều hành bộ máy Nhà nước đều được “ông thầy”, tức là khuôn mẫu, đào tạo nên, “không thầy đố mày làm nên”. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức đều thống nhất dựa vào chế độ thi cử, có học vị, cấp bậc rõ ràng.

Vì tất cả những lẽ trên, có người đặt vấn đề: Vậy đặt thầy cao hơn cha có quá đáng không?

Cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng mình, thầy giáo là người truyền thụ kiến thức cho mình. Sở dĩ hiển đạt, thi thô được tài năng với đời đều nhờ thầy. Ngày xưa, từ nhỏ đến khi đi thi đậu cử nhân, tiên sĩ thường cũng chỉ học một thầy cùng lắm là vài ba thầy, chứ không như ngày nay mỗi năm một lớp rồi mỗi môn một thầy. Ngày xưa có nhiều trường hợp thầy trò cùng lều chóng đi thi nhưng học tài thi phận , trò đậu thầy hỏng. Có những ông thầy đào tạo được nhiều ông Nghè, ông Cống nhưng bản thân ông thầỳ lại chẳng đậu đạt gì, chẳng nhận quan tước gì, có người thi đậu cũng không ra làm quan mà chỉ tiếp tục dạy học. Có những thầy giáo đạo cao đức trọng được môn sinh nể trọng hơn cha. Thầy Chu Văn An là người thầy tiêu biểu nhất được liệt thờ ở Văn Miếu.

Ngày xưa, thầy đồ dạy đỗ được một số học sinh đậu đạt cử nhân, tiến sĩ thì tự nhiên vai vế trong xã hội được nâng lên rõ rệt, quan tỉnh quan huyện cũng phải kính nể, chẳng những đối với thầy giáo mà cả gia đình thầy. Quang Trung ba lần mời Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) ra làm quân sư, chính là để thu phục nhân sĩ Bắc Hà, vì Nguyễn Thiếp là thầy giáo của nhiều triều thần Lê Trịnh đương thời.

Ngành giáo dục tuy có chế độ thi hương, thi hội, thi đình rất nghiêm rất chặt, song rất ít giáo chức rất ít trường công, ở cấp huyện , cấp phủ chỉ có một vài huấn đạo giáo thụ ăn lương nhà nước, hầu hết là các lớp tư thục. Một nhà khá giả trong vùng nuôi thầy cho con ăn học , xóm làng chung quanh gửi ôn đến thụ giáo không phải nộp học phí, chỉ đến ngày mồng 5 tháng 5 ngày Tết… cha mẹ học trò mới đưa lễ tết đến tết thầy tuỳ tâm. Giàu có thì thúng gạo nếp, bộ quần áo…Nghèo thì một cơi trầu một be rượu cũng xong.

Môn sinh của một thầy thường tổ chức nhau lại gọi là Hội đồng môn, có trưởng tràng, giám tràng và một số cán tràng giúp việc trưởng tràng. Con thầy mặc dầu ít tuổi hơn cũng được gọi là thế huynh. Thầy nào có tiếng dạy giỏi, dạy nghiêm thì được nhiều sĩ tử đến theo học , Hội đồng môn vận động các gia đình môn sinh đóng góp tiền của tạo ruộng, tạo trâu bò rồi phân công cày cấy, đến mùa màng gặt tự gánh về gia đình nhà thầy để gia đình thầy chi dụng. Khi thầy mất lại dùng rụông đó lo tang ma cho thầy, cho vợ thầy và giỗ tết tế tự về sau.

Học trò để tang thầy cũng ba năm như tang cha mẹ, nhưng không mặc tang phục, gọi là tâm tang tức là để tang trong lòng.

Cụ Thượng Niên về lễ tang vợ thầy:

Nguyễn Khắc Niên (1889-1954) người Sơn Hoà, Hương Sơn, Hà Tĩnh đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng Giáp) khoa Đinh Mùi 1907 làm Thượng thư bộ Cải lương hương chính triều  Bảo Đại. Nguyễn Khắc Niên là học trò cụ Nguyễn Duy Dư người Sơn Tiến, một người nổi tiếng hay chữ ở huyện  Hương Sơn, đã được hội Tư văn hàng huyện tôn xưng là “Hương Sơn tứ hổ”. Nguyễn Khăc Niên thụ giáo cụ Dư ở cách nhà mình trên 4 km. Đến kỳ thi Hương hai thầy trò cùng lều chõng đi thi, học trò đậu cử nhân, được vào Huế thi Hội đậu luôn Hoàng giáp, thầy chỉ đậu Tú tài. Theo chế độ thi cử thời trước: Cử nhân mới được dự thi Hội, còn  Tú tài thì phải 3 khoa Tú tài mới được thi. Ba năm mới có một khoa, thầy Tú chưa kịp chờ để thi lại khoa sau thì đã từ trần- 1909. Hơn 30 năm sau, bà Tú Dư mất, lúc đó Nguyễn Khăc Niên đã lên đến chức Thượng thu trong triều. Nghe tin vợ thầy học cũ mất, ông đánh xe từ Huế về Hà Tĩnh để phúng viếng. Nhà cách sông và đường quốc lộ, Tri huyện tiếp điện đã lệnh cho Tổng lý địa phương đem kiệu và võng lọng ra tận bờ sông đón rước cụ thượng về quê lễ vợ thầy. Nhà ông bà Tú trên đỉnh đồi Sơn Trại, người trai tráng leo lên cũng cảm thấy mệt, hơn nữa sỏi đá lởm chởm. Nhưng để tỏ lòng cung kính nhớ ơn thầy, cụ thương Niên đã xuống cáng, đi chân đất có hai người lính hầu dìu hai bên, lên tận nhà thầy gần đỉnh đồi . Tất nhiên cụ Thượng thư đã đi chân đất thì từ tuần phủ tri huyện đến tổng lý cũng phải tháo hia hài cắp nách mà leo lên. Người con trưởng cụ Tú và một số gia nân khăn áo chỉnh tề đã xếp hàng đứng ở cổng. Mặc dầu chỉ là dân thường ít hơn một vài tuổi, nhưng con trai cụ Tú cũng được Cụ Thượng Niên vái chào rất cung kính (vì được coi là thế huynh).

Học trò cũ mà thầy lại mất từ lâu, nay về lễ tang vợ thầy, đây là chuyện thực mắt thấy tai nghe, kể lại dẫu có lỗi thời, nhưng cũng hy vọng các bạn đọc chắt lọc được trong phong tục xưa chút hương vị ngọt ngào chăng ?

Nguồn: http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/phongtuc/cau_036.html

Advertisements

Đi lễ chùa đầu năm thế nào cho đúng? 

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Lễ Phật thì trọng ở lòng thành. Đến chùa thì tâm thái hướng thiện là quan trọng nhất, còn lễ lạc thì có hay không cũng không quan trọng.

Đi lễ chùa đầu năm là một hoạt động không thể thiếu của mỗi người dân dịp Tết đến, xuân về. Phong tục này đã trở thành một nét đẹp văn hóa tâm linh trong đời sống mỗi người Việt Nam. Thế nhưng, thời gian gần đây, việc lễ chùa hay tìm đến những chốn tâm linh đang bị nhiều người làm lệch lạc đi nét đẹp này.

Nét đẹp văn hoá truyền thống

Văn hóa Phật giáo đã trở thành những yếu tố không thể thiếu trong những ngày Tết Nguyên đán của người Việt, từ mâm ngũ quả, hai cây mía (gậy ông bà, ông vải), dựng cây Nêu để biểu thị lãnh thổ được đức Phật bảo vệ… Đi lễ chùa đầu năm là một phong tục tốt đẹp, dĩ nhiên rồi. Dù đi làm ăn ở đâu xa, tết trở về làng mình, thắp nén nhang trước mộ tổ tiên, viếng thăm ngôi chùa làng nhỏ bé, nhưng gần gũi và thiêng liêng. Chùa làng không phải chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là chỗ để mỗi con người lắng lại lòng mình với những ý nghĩ tốt lành.

Read the rest of this entry

Vùng đất phụ nữ nhổ tóc và chỉ gội đầu một lần vào dịp Tết.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Là một trong những xã miền núi xa nhất của huyện Phong Thổ (Lai Châu), giáp biên giới Trung Quốc, Sì Lờ Lầu cũng là vùng đất đầy bí ẩn đối với những ai lần đầu bước chân đến.

2-4-bi-an-vung-dat-phu-nu-nho-toc-va-goi-dau-vao-ngay-tet-3-1423121666790-1423988112294-24-0-351-640-crop-1423988375427

 1.001 thủ tục cúng, lễ, kiêng kị, xuất hành Tết 2015

Ở Sì Lờ Lầu, khi những ngày Đông tàn, Xuân tới, khi đàn ông bổ củi, làm thịt lợn chuẩn bị đón Tết thì những người phụ nữ lại tụ tập quanh bếp lửa nhổ tóc cho nhau.

Và cũng chỉ duy nhất một lần trong năm, khi bước vào ngày giáp Tết, người phụ nữ Dao đỏ nơi đây mới gội đầu.

Phụ nữ Dao đỏ ở Sì Lờ Dầu nhổ tóc cho nhau. Ảnh: P.B

Phụ nữ Dao đỏ ở Sì Lờ Dầu nhổ tóc cho nhau. Ảnh: P.B

Bí ẩn vùng đất miền biên viễn

Nhìn trên bản đồ vùng phía Bắc Tổ quốc Việt Nam, nhiều người liên tưởng Sì Lờ Lầu giống như ngón tay đeo nhẫn trên bàn tay.

Có thể hình dung đỉnh Móng Cái (Quảng Ninh) là ngón cái, đỉnh Lũng Cú (Hà Giang) cao nhất là ngón giữa, đỉnh Thu Lũm (Lai Châu) là ngón út nơi cực Tây Bắc.

Ngoài “ngón tay cái” ra thì để lên đỉnh của những “ngón tay” còn lại, đều phải trải qua những con đường khúc khuỷu, gian nan thử thách.

Theo những cụ già người Dao đỏ trên vùng đất này thì Sì Lờ Lầu có nghĩa là “12 tầng dốc”.

Sở dĩ người ta gọi là cung đường của “12 tầng dốc” vì từ TP Lai Châu lên đây phải đi qua đúng 12 đỉnh núi, bên núi cao, bên vực thẳm.

Và một điều thú vị thường thấy trên cung đường này là hoa đào thường nở từ rất sớm, khoảng tháng 11 đã bắt đầu nở, để rồi khi trái đã đơm, bước vào đúng dịp xuân, những cây đào lại tiếp tục đơm hoa lần nữa.

Giờ đây, cuộc sống của đồng bào dân tộc đã đổi thay nhiều, nhưng nền văn hóa, phong tục của đại đa số vẫn được giữ nguyên sơ và đầy thú vị.

Đặc biệt là phụ nữ Dao đỏ trên vùng đất này, bao nhiêu năm qua, tục nhổ tóc, cạo trọc đầu và chỉ gội đầu một lần duy nhất vào dịp Tết vẫn được duy trì như một nét văn hóa riêng biệt độc đáo.

Dừng chân bên một con dốc, trong cái nắng cuối mùa Đông, bà Lý Tả Mẩy (45 tuổi, vợ Bí thư Đảng ủy xã Sì Lờ Lầu) đang ngồi phơi nắng và trò chuyện với hàng xóm.

Điều khác biệt thu hút ánh mắt những con người miền xuôi như chúng tôi khi nhìn vào bà Mẩy và tất cả phụ nữ Dao đỏ ở tuổi trung niên trên vùng đất này là trên đầu gần như không có tóc.

Bà Mẩy cười bảo: “Tục lệ nhổ tóc ở đây đã có từ nhiều đời trước.

Thế hệ chúng tôi sinh ra đã được mẹ căn dặn khi trưởng thành, lấy chồng thì phải nhổ tóc.

Đau cũng phải nhổ và thường là một tháng nhổ một lần. Ngày giáp Tết thì bắt buộc ai cũng phải nhổ, bởi đó là cách làm đẹp mỗi khi bước vào năm mới.

Ở đây, phụ nữ nhổ tóc đón năm mới cũng như mua sắm quần áo đẹp đón Tết vậy”.

Ngồi cạnh bà Mẩy, bà Tẩn Thị Phẩy (ở bản Gia Khâu) kể lại rằng: “Tục nhổ tóc của người phụ nữ Dao đỏ trên Sì Lờ Lầu này đã có từ lâu lắm rồi và ở mỗi nơi lại mang một ý nghĩa khác nhau.

Trước đây tôi nghe bà và mẹ kể rằng, phụ nữ Dao đỏ phải nhổ tóc để tránh việc làm vương vãi tóc khi nấu nướng.

Ở đây, khi người đàn ông ngồi ăn cơm thì phụ nữ phải đứng để xới cơm.

Theo truyền miệng từ ngày xưa, ở một gia đình, lúc ăn cơm bố chồng thấy một sợi tóc dài của phụ nữ rơi trong cơm nên đã mắng con dâu và đòi đuổi ra khỏi nhà.

Từ đó, bất cứ người phụ nữ Dao đỏ nào khi lấy chồng đều phải nhổ tóc, chỉ để lại một chỏm tóc trên đỉnh đầu”.

Lý giải về điều này, bà Tẩn Thị Phẩy bảo, đỉnh đầu là nơi trú ngụ hồn vía của con người, quan niệm để chỏm tóc như vậy là tránh không bị đau ốm.

Mặt khác, phụ nữ tóc nhanh dài hơn đàn ông nên chấy rận nhiều, để tóc tốt thì chấy rận trú ngụ ngứa không tài nào chịu được và tóc dài thì khi lên nương bị vướng, không làm được việc gì.

Cầu kỳ tục nhổ tóc

Bây giờ, nhiều phụ nữ trẻ ở đây không còn nhổ tóc, cạo đầu như trước. Ảnh: P.B

Bây giờ, nhiều phụ nữ trẻ ở đây không còn nhổ tóc, cạo đầu như trước. Ảnh: P.B

Chúng tôi đến thăm nhà chị Tẩn Sỳ Mẩy, cách nhà bà Phẩy không xa. Chị Mẩy năm nay mới 34 tuổi nhưng đứa con đầu đã… 17 tuổi.

Chị Mẩy kể, ngày xưa, mới bước sang tuổi 17 đã bị “bắt về làm vợ”. Theo tục của người Dao đỏ trên này, nếu cô gái nào bị “bắt về làm vợ” không ưng người đàn ông đó làm chồng thì sẽ bỏ về nhà.

Nếu đồng ý làm vợ, cô gái sẽ ở lại nhà chồng khoảng 2 hoặc 3 ngày.

Trong thời gian này, cô gái phải nhổ tóc để chứng tỏ thật lòng như cam kết hẹn ước, rồi được nhà chồng cúng ma thành người một nhà.

Trước đây ở vùng đất “12 tầng dốc” này, theo tập tục thì sau khi lấy chồng, người phụ nữ nào cũng phải nhổ tóc, sau đó dùng sáp ong vuốt chỏm tóc trên đỉnh đầu thành chóp rồi cắm cờ đỏ, úp khăn đỏ.

Cách nhổ tóc của phụ nữ nơi đây cũng khá đặc biệt. Họ dùng hai sợi chỉ xoắn đi xoắn lại vào sợi tóc, sau đó giật đứt chân tóc.

Họ phải dùng tay nhổ tóc chứ không cạo vì sẽ rất xấu. Sau đó họ nấu sáp ong và bôi lên đỉnh đầu làm chóp tóc.

Để thực hiện công việc này, theo chị Tẩn Sỳ Mẩy, trước khi nhổ tóc, phải chuẩn bị bộ đồ nghề, bao gồm sáp ong, sợi chỉ chuyên dùng để nhổ tóc, chiếc lông nhím khô cứng cùng bộ khung và khăn đỏ, cờ đỏ để cắm lên đầu.

Tiếp theo, lấy cục sáp ong cho vào bát mang nướng trên ngọn lửa để sáp nóng chảy, rồi dùng lược nhúng vào bát sáp ong đó, vừa chải vừa phết vào tóc thành từng lọn nhỏ từ đỉnh đầu trở xuống.

Phần tóc này dính sáp bết vào nhau và cứng lại, rồi được vấn tròn vào đầu cũng từ trên xuống dưới, đều đặn, ngay ngắn.

Để hoàn thành công việc sơn đầu, phải mất vài tiếng, càng sơn lâu, càng óng đẹp.

Sau gần hai ngày, khi sáp ong đã khô, tóc đã bết, công việc sơn đầu coi như hoàn thành. Từ đó trở đi, người phụ nữ không gội đầu.

Nếu tóc bị bẩn, họ lấy quả chanh, quả bưởi mọng nước chà lên tóc là sạch ngay. Nếu thấy ngứa, họ dùng lông nhím để gãi.

Mỗi lần sơn để lâu 3-4 tháng, có khi cả năm. Chỉ đến dịp Tết, họ mới giở tóc ra dùng nước lá thơm đặc biệt chải vuốt hết sáp cũ, làm lại từ đầu.

Đặc biệt, nếu như cô gái nào chết trẻ, chưa lấy chồng thì người thân phải nhổ tóc cho cô gái trước khi nhập quan.

Người Dao đỏ nơi đây tâm niệm: Nếu không nhổ tóc thì cô gái sẽ không siêu thoát và kiếp sau sẽ không được làm người.

Cũng có người do ốm lâu, tóc dài chưa nhổ được, khi chết sẽ được người thân nhổ tóc như bao phụ nữ còn sống khác.

Ông Phàn Phủ Xiên, Chủ tịch UBND xã Sì Lờ Lầu cho biết, cả xã Sì Lờ Lầu này có 629 hộ với 3.600 khẩu thì 100% là người Dao đỏ.

Ngày trước, hầu hết phụ nữ nơi đây đều nhổ tóc và cắm vải đỏ trên đỉnh đầu.

Tuy nhiên sau này, các cô gái Dao đỏ ít nhổ tóc hơn vì cho rằng nhổ tóc đau nên dễ chảy nước mắt, mà chảy nước mắt sẽ làm mắt mờ.

Bây giờ, chỉ có các phụ nữ trung niên duy trì việc này vì muốn lưu giữ phong tục của ông bà, tổ tiên và muốn thể hiện nét đẹp, bản sắc của dân tộc mình.

Chiều cuối năm trên vùng đất Sì Lờ Lầu sương lạnh quyện vào những đám mây trắng cùng khói chiều buồn hoang hoải.

Hình ảnh những phụ nữ Dao đỏ ngồi nhổ tóc cho nhau bên bếp lửa, rồi gội đầu khi giao thừa sắp đến như một dấu ấn khi đến vùng đất miền biên viễn này.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, tộc người Dao có nhiều nhóm sinh sống nhưng ở Phong Thổ thì chủ yếu là người Dao đỏ bởi phụ nữ thường quấn khăn hay đội mũ đỏ, áo xanh đen có nhiều hoa văn đỏ và trắng ở cổ, vạt, tà áo.

Ngoài tục nhổ tóc thì người phụ nữ Dao đỏ trên đất Phong Thổ còn có tục cạo chân mày. Ngoài ra, người Dao đỏ ở Lai Châu cũng có nhiều tục lệ đặc biệt và thú vị khác.

Chẳng hạn như gia đình nào đang nấu rượu ngày Tết mà người lạ đến chơi thì họ cho rằng rượu sẽ bị chua và khê, nên khi nấu rượu, họ phải cắm lá trước cửa nhà để báo và người lạ biết ý sẽ không vào nữa.

Họ cũng có tục kiêng sờ đầu trẻ em vì cho rằng đó là nơi trú ngụ các hồn vía con người nên không được ai chạm đến.

 

Nguồn:

Những món ăn chỉ Tết mới có ở Quê hương.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Bên cạnh bánh chưng, bánh tét, người Việt còn rất nhiều món ăn độc và lạ mà chỉ vào ngày Tết chúng ta mới có dịp thưởng thức.

Tết Nguyên Đán là dịp mọi gia đình sum vầy, quây quần bên nhau. Dù đi xa nơi đâu nhưng mỗi khi Tết đến, người Việt lại trở về bên cha mẹ, người thân và thưởng thức không khí tuyệt vời của mùa xuân năm mới với những món ăn truyền thống đặc trưng.

Những món ăn ấy không chỉ có bánh chưng, bánh tét, thịt mỡ, dưa hành mà còn đó rất nhiều đặc sản mà “chỉ Tết mới có” trên khắp mọi nẻo đường của Tổ quốc…

Nguồn gốc các món ăn “chỉ Tết mới có” trên khắp Việt Nam
Chè lam xứ Đoài (Sơn Tây, Hà Nội)

Nguồn gốc các món ăn “chỉ Tết mới có” trên khắp Việt Nam
Cá kho làng Vũ Đại, Hà Nam

Nguồn gốc các món ăn “chỉ Tết mới có” trên khắp Việt Nam
Thịt trâu gác bếp Tây Bắc (Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai…)

Nguồn gốc các món ăn “chỉ Tết mới có” trên khắp Việt Nam
Bánh rò xứ Quảng và bánh tổ Hội An (Quảng Nam)

Nguồn gốc các món ăn “chỉ Tết mới có” trên khắp Việt Nam
Me ngâm đường ở Huế và bánh phồng mì Trà Vinh

Nguồn gốc các món ăn “chỉ Tết mới có” trên khắp Việt Nam
Hột cốm nổ Bình Thuận và lạp vịt Sóc Trăng

Nguồn gốc các món ăn “chỉ Tết mới có” trên khắp Việt Nam
Canh khổ qua nhồi thịt và thịt heo luộc ngâm nước mắm ở Sài Gòn.

Theo Trí Thức Trẻ/Kenh14, VOV, Wikipedia, Vista, V

 

Vì sao bánh tét, bánh chưng ăn với dưa hành?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Bạn có biết, chính sự kết hợp tinh tế, hài hòa giữa hương vị chua thanh – béo ngậy đã giúp món bánh chưng trở nên thêm phần hấp dẫn.

Mỗi dịp Tết đến Xuân về, dường như ai trong trong chúng ta cũng nhớ tới cặp câu đối “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”.

Cho đến nay, “cây nêu”, “câu đối đỏ” dường như không còn được thịnh hành, “tràng pháo” bị cấm từ lâu nhưng “thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh” chắc còn lưu truyền mãi và không thể thiếu trong mâm cỗ cúng gia tiên của mỗi gia đình người Việt.

Lý giải vui: Vì sao bánh chưng lại ăn với dưa hành? Read the rest of this entry

Văn hóa 3 Miền qua mâm ngũ quả.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Ngày Tết, trên bàn thờ gia tiên của người Việt không bao giờ thiếu mâm ngũ quả, trước là thờ cúng tổ tiên, sau là ước mong năm mới được an khang, thịnh vượng hơn năm trước.

Ý nghĩa từng loại quả

Mâm ngũ quả là mâm quả gồm 5 loại khác nhau, mỗi loại tượng trưng cho một ước nguyện của gia chủ, thông qua tên gọi và màu sắc. Ngoài ra, “ngũ” còn thể hiện ước muốn của người Việt đạt được ngũ phúc lâm môn: Phúc, quý, thọ, khang, ninh.

Tùy theo từng vùng miền với đặc trưng về khí hậu, sản vật và quan niệm riêng mà người ta chọn các loại quả khác nhau để bày mâm ngũ quả.

Ý nghĩa mâm ngũ quả trong văn hóa 3 miền
Mâm ngũ quả thể hiện ước mong năm mới được an khang thịnh vượng Read the rest of this entry

Tập quán nên giữ – Nghi thức cúng trong đêm giao thừa.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Cúng giao thừa là nghi thức không thể thiếu mỗi dịp Tết đến xuân về, các gia đình hãy chuẩn bị cho mình những kiến thức thật cần thiết và chu đáo, để thực hiện việc cúng lễ được thành tâm, thành ý.

Dưới đây là những nghi thức cúng trong giao thừa:

Lễ trừ tịch (lễ giao thừa)

Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu qua năm mới. Vào lúc này, dân chúng Việt nam theo cổ lệ có làm lễ trừ tịch. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để “khu trừ ma quỷ”, do đó có từ “trừ tịch”. Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa.

Hướng dẫn các nghi thức cúng trong đêm giao thừa

Cúng ai trong lễ giao thừa?

Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới.Lễ giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì.

Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn cấp nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.

Sửa lễ cúng giao thừa

Người ta cúng giao thừa tại các đình, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa được thiết lập ở giữa trời. Một chiếc hương án được kê ra, trên có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm chiếc mũ của Ðại Vương hành khiển.

Hướng dẫn các nghi thức cúng trong đêm giao thừa

Ðến giờ phút trừ tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu lễ, rồi mọi người kế đó lễ theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển phù hộ độ trì cho một năm nhiều may mắn. Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa nhưng bàn thờ thì giản tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân hay trước cửa nhà.

Tại sao cúng giao thừa ngoài trời?

Dân tộc nào cũng coi phút giao thừa là thiêng liêng. Các cụ ta quan niệm: Mỗi năm Thiên đình lại thay toàn bộ quan quân trông nom công việc dưới hạ giới, đứng đầu là một ngài có trí như quan toàn quyền. Năm nào quan toàn quyền giỏi giang anh minh, liêm khiết thì hạ giới được nhờ như: được mùa, ít thiên tai, không có chiến tranh, bệnh tật… Trái lại, gặp phải ông lười biếng, kém cỏi, tham lam thì hạ giới chịu mọi thứ khổ.

Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn cấp nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà…

Hướng dẫn các nghi thức cúng trong đêm giao thừa

Lễ cúng Thổ Công

Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cũng khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà. Lễ vật cũng tương tự như lễ cúng giao thừa.

Mấy tục lệ trong đêm trừ tịch

Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ riêng mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện.

  • Lễ chùa, đình, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.
  • Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.
  • Hái lộc: Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong người ta có tục hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là “lấy lộc” của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.
  • Hương lộc: Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm và bình hương bàn thờ nhà mình.Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật, Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm.
  • Xông nhà: Thường người ta kén một người “dễ vía” trong gia đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và ngưòi này sẽ tự “xông nhà” cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu không có người nhà dễ vía người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc tết, để người này đem lại sự may mắn dễ dãi.
  •  Theo lamsao/vietlove