Category Archives: Kiến thức @

Đại Hàn xây dựng xa lộ rẻ nhất thế giới như thế nào?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Đại Hàn xây dựng xa lộ rẻ nhất thế giới như thế nào?

Hệ thống giao thông công cộng của Hàn Quốc được đánh giá thuộc diện tốt nhất thế giới về “tính hiệu quả, giá thành, độ tin cậy và đổi mới”. Trong những kỳ công của hệ thống đó phải kể đến xa lộ Seoul-Busan, công trình xây dựng cầu đường lớn nhất trong lịch sử nước này.

 

 Xa lộ Seoul – Busan là một trong những công trình đã giúp Hàn Quốc bứt phá ngoạn mục thành một trong những cường quốc thế giới. Tuyến đường nối thành phố thủ đô tới hải cảng Busan ở phía nam được xây dựng dưới thời Tổng thống Park Chung Hee.
Hàn Quốc, xa lộ, kỳ công, Park Chung Hee
Một phần xa lộ Seoul-Busan nhìn từ trên cao.

Khi đó, người đứng đầu chính quyền Seoul đặt ra hai mục tiêu: giải quyết giao thông cho phát triển kinh tế và đem lại cho người dân Hàn Quốc một niềm tin mới về khả năng xây dựng và sáng tạo của họ.

Khi nêu ra đề án xây dựng xa lộ với 4 làn xe chạy, vươn qua những rặng núi và địa thế hiểm trở, Park Chung Hee đã đối mặt với rất nhiều khó khăn. Ở trong nước, Quốc hội phản đối thẳng thừng, và nhiều nhà lập pháp, kể cả các thành viên thuộc đảng cầm quyền, không tin dự án sẽ thành công. Họ cho rằng, chi phí xây dựng và bảo trì con đường sẽ đẩy Hàn Quốc tới bờ vực phá sản. Ở ngoài nước, Ngân hàng Thế giới (WB) cùng không ít thể chế tài chính khác cũng có nhận định tương tự.

Trước đó, vào năm 1964, Park Chung Hee đã tới thăm Tây Đức và ấn tượng rất lớn với hệ thống xa lộ Autobahn. Sau khi trở về từ hành trình này, ông đã coi việc xây dựng xa lộ là một vấn đề hàng đầu của đất nước.

Vấp phải sự phản đối nhưng Park Chung Hee vẫn đề cao quyết tâm. Ông tập hợp các báo cáo chuyên ngành và của cố vấn ở trong nước cũng như ngoài nước, thu thập tất cả những tài liệu về xây dựng xa lộ từ miền núi Andes ở Nam Mỹ tới Siberia của Liên Xô, rồi tự mình nghiền ngẫm. Sau đó, cùng với các kỹ sư xây dựng, ông đích thân đi trực thăng lên, xuống và lượn qua khắp những vùng núi non hiểm trở để khảo sát địa hình và ghi nhận thực tế.

Ngày 1/2/1968, Park Chung Hee ra lệnh khởi công dự án có độ dài 428km, băng qua hơn 200 cây cầu và 6 đường hầm chính. Đến hết tháng 6/1970, phần thi công cuối cùng ở đoạn Daejeon – Daegu hoàn tất và xa lộ lớn nhất trong lịch sử Hàn Quốc chính thức khai thông.

Các chuyên viên vận tải thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, với số tiền chỉ 330 USD xây dựng một km đường, đây là chi phí thấp nhất trong lịch sử xây dựng xa lộ loại này.

Và đúng như những gì Park Chung Hee kỳ vọng, trong 3 năm đầu, xa lộ Seoul – Busan đã được sử dụng hữu hiệu để phục vụ cho một khu vực tạo ra 70% tổng sản lượng quốc gia, và chiếm tới 80% lượng xe lưu thông trong nước. Con đường kết nối hiệu quả cả về địa hình lẫn thời gian giữa các nhà máy sản xuất và các khu vực tiêu thụ, góp phần giúp cho Hàn Quốc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mong đợi.

Một kỹ sư thuộc Bộ Xây dựng Hàn Quốc đã làm việc trực tiếp 18 tháng ở Công trường Xây dựng Xa lộ đã mô tả về Park Chung Hee như sau: “Sau một thời gian, tôi thấy ông giống một nhạc trưởng. Với chiếc trực thăng và cây gậy, ông lên xuống, lần này với một toán nhà địa chất để tìm hiểu có gì trục trặc mà vách núi đã sập trên những người xây dựng đường hầm, lần khác với mấy nhà thủy học của Liên Hợp Quốc để kiểm tra các họa đồ viên đã ghi sai mực nước ngầm ra sao. Nếu ngày thứ Ba không có được câu trả lời thì ông sẽ trở lại với vấn đề này ngày thứ Năm hoặc thứ Bảy”.

Ký giả Michael Keon cũng ghi lại một sự kiện cho thấy Park Chung Hee đã coi việc hoàn thành con đường như là một nhiệm vụ lịch sử, khi chính ông đích thân làm lễ tuyên thệ cho những sĩ quan trẻ được tuyển chọn trong Đoàn Kỹ sư Công binh làm đốc công và chuyên viên sửa chữa máy móc, với lời thề: “Nguyện hiến thân cho Tổ quốc phồn vinh, cho Nhân dân hạnh phúc. Chịu bất cứ hình phạt gì nếu không làm tròn nhiệm vụ”.

Dưới thời Park Chung Hee, tiết kiệm là quốc sách. Trong nhiều bài diễn văn, ông đã nhắc đi nhắc lại: “Mỗi xu ngoại tệ là một giọt máu”.

Thanh Hảo

Advertisements

Chế tạo thành công robot “mẹ” tự “đẻ con” và tiến hóa.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Thông tin nghe có vẻ như trong chuyện khoa học viễn tưởng, nhưng các nhà nghiên cứu thực tế vừa tạo ra những robot có khả năng đẻ con và tiến hóa mà không cần sự can thiệp của con người.

 Các chuyên gia robot học đã chế tạo một cỗ máy “mẹ”, có thể tự sản xuất “các con” của chính nó và kiểm nghiệm xem những robot con nào thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ nhất định. Robot “mẹ” sau đó sử dụng các kết quả này để khai báo thiết kế về “đứa con” tiếp theo, sao cho những đặc điểm ưu việt hơn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp, tương tự như cách thức của quá trình chọn lọc tự nhiên ở động vật.

Robot biết đẻ con là sản phẩm sáng tạo của một nhóm kỹ sư thuộc Đại học Cambridge (Anh), do tiến sĩ Fumiya Iida đứng đầu. Tiến sĩ Iida và các cộng sự đã thiết kế robot “mẹ” và lập trình cho nó có khả năng chế tạo một robot đơn giản, có thể cử động được.

Từ thời điểm này, không cần thêm bất cứ sự can thiệp nào của con người hoặc quá trình mô phỏng của máy tính, robot “mẹ” tự sản sinh ra con cấu tạo gồm 1 – 5 khối chất dẻo cùng một động cơ nhỏ bên trong.

Trong mỗi thử nghiệm riêng rẽ khác nhau, robot mẹ thiết kế, chế tạo và kiểm nghiệm một thế hệ gồm 10 đứa con, sử dụng thông tin thu thập được từ thế hệ này để khai báo thiết kế cho thế hệ tiếp theo. Kết quả cuối cùng ghi nhận, các đặc điểm ưu việt hơn đã được truyền qua nhiều thế hệ robot và các robot tốt nhất trong thế hệ cuối cùng thực hiện một công việc định trước nhanh gấp đôi các robot tốt nhất trong thế hệ đầu tiên.

“Chọn lọc tự nhiên về cơ bản là sinh sản, đánh giá, tái sinh sản, đánh giá và lặp đi lặp lại tiến trình đó. Nhìn chung, đây là điều mà robot mẹ đang làm. Chúng ta có thể thực sự quan sát việc cải thiện và đa dạng hóa của loài”, tiến sĩ Iida giải thích.

Theo tiến sĩ Iida, mỗi robot con ra đời từ một “hệ gen” độc nhất vô nhị, là sự kết hợp giữa 1 – 5 “gen” (thực chất là các khối chất dẻo) khác nhau, chứa đựng mọi thông tin về hình dáng, cấu trúc và các lệnh vận động.

Cũng giống như trong tự nhiên, quá trình tiến hóa ở robot diễn ra thông qua“quá trình đột biến”, trong đó các thành phần của 1 gen được biến đổi hoặc các gen đơn lẻ được thêm vào hoặc bớt đi và “lai tạo” (một gen mới được hình thành thông qua hòa trộn các gen từ 2 cá thể).

Để robot mẹ xác định đứa con nào là ưu việt nhất, mỗi robot con được kiểm tra về khả năng di chuyển xa tới đâu từ vị trí xuất phát, trong một khoảng thời gian nhất định. Các cá thể thành công nhất trong mỗi thế hệ vẫn giữ nguyên không đổi trong thế hệ tiếp theo để bảo tồn các khả năng của chúng, trong khi sự đột biến và lai tạo được thực hiện ở những cá thể con kém thành công hơn.

Nhóm nghiên cứu khám phá ra rằng, điều đó giúp tạo ra sự biến hóa thiết kế và cải thiện khả năng của các thế hệ robot theo thời gian.

Nghiên cứu của họ tập trung xem xét cách các robot có thể được cải thiện như thế nào, chẳng hạn như trí tuệ hay sự vận động, thông qua học hỏi từ tự nhiên. Một robot hiện đòi hỏi mức năng lượng cao gấp 10 – 100 lần so với một động vật khi cùng thực hiện một việc.

Vẫn còn một chặng đường dài phải vượt qua trước khi chúng tôi chế tạo được những robot có diện mạo, hành động và suy nghĩ giống người. Tuy nhiên, cái mà chúng tôi có là rất nhiều các công nghệ khả thi, giúp chúng tôi đưa một số khía cạnh của sinh vật học vào thế giới kỹ thuật“, nhà nghiên cứu Iida nhấn mạnh.

Nguồn : vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/256285/trinh-lang-robot-biet-de-con-va-tu-tien-hoa.html

 

Bằng chứng rõ ràng chứng tỏ UFO đã đến Ấn Độ từ 6000 năm trước.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Ấn Độ cổ đại là một trong những nền văn minh có lịch sử phát triển lâu đời nhất thế giới. Khi khám phá các bằng chứng khảo cổ tiếng Phạn đã khiến những nhà nghiên cứu bất ngờ.

1. UFO trong bản viết tiếng Phạn 6000 năm tuổi

Theo đó UFO được mô tả như một tòa nhà bay và có tên là“Vedas”, điều đáng ngạc nhiên là nó được viết từ 6000 năm trước!

UFO đã ghé thăm Trái Đất 6000 năm trước.
UFO đã ghé thăm Trái Đất 6000 năm trước. Read the rest of this entry

Vũ khí hạt nhân sẽ đưa Trái Đất trở về thời nguyên thủy như thế nào?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Chiến tranh hạt nhân, hay chiến tranh nguyên tử, là chiến tranh mà trong đó vũ khí hạt nhân được sử dụng.

Khác với chiến tranh thông thường, chiến tranh hạt nhân có mức độ và phạm vi phá hủy lớn hơn nhiều và gây những hậu quả lâu dài trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ sau cuộc chiến.

Một cuộc chiến tranh hạt nhân trên quy mô lớn có thể dẫn đến sự hủy diệt tất cả các dạng sống trên Trái Đất. Và có thể “tiễn” hành tinh xanh của chúng ta trở về thời nguyên thủy, sơ khai.

Vũ khí hạt nhân: Sức mạnh hay sự hủy diệt?

Tính cho tới nay, chỉ có hai quả bom hạt nhân đã được sử dụng trong chiến tranh tại Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản) trong Thế chiến II. Cả hai quả bom này đã cho thế giới thấy sức công phá và hủy diệt khủng khiếp của chúng.

Nhưng, không vì vậy mà các kho dự trữ hạt nhân giảm xuống, nhất là sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh, số lượng đầu đạn hạt nhân tăng lên một cách chóng mặt.

Business Insider đã có bài mô tả tiềm năng vũ khí hạt nhân của các nước.

Theo đó, tính đến năm 2014, trên thế giới có 10 quốc gia hạt nhân, trong đó mạnh nhất là hai cường quốc Nga và Mỹ với khoảng 8.500 và 7.500 đầu đạn hạt nhân.

ICBM Titan II mang đầu đạn W53 Mt, khiến nó là vũ khí hạt nhân mạnh nhất của Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh.
ICBM Titan II mang đầu đạn W53 Mt, khiến nó là vũ khí hạt nhân mạnh nhất của Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh.

Tiếp đến là 3 cường quốc Anh, Pháp và Trung quốc tương đương nhau với số đầu đạn 225, 300 và 250.

Và cuối cùng là 3 tân quốc gia hạt nhân là Ấn Độ, Pakistan, Iran, Israel. Dù “chậm chân” hơn khoảng 20 – 30 năm, nhưng nay đã có trong kho khoảng trên dưới 100 đơn vị.

Ngoài ra, Triều Tiên sở hữu con số nhỏ nhoi ước tính không quá 10 quả bom, mà chủ yếu là loại bom Plutonium thô sơ.

Bảng thống kê vũ khí của các cường quốc hạt nhân.
Bảng thống kê vũ khí của các cường quốc hạt nhân.

Tiềm năng các quốc gia hạt nhân trên thế giới.
Tiềm năng các quốc gia hạt nhân trên thế giới.

Với tiềm năng khác nhau giữa các quốc gia hạt nhân như vậy, một cuộc chiến tranh hạt nhân nếu xảy ra cũng có thể ở mức độ ác liệt rất khác nhau.

Xét cho cùng, tai họa của một cuộc chiến tranh xảy ra, dù ở quy mô lớn nhỏ nào, cũng gây hậu quả rất lớn, nhiều mặt và lâu dài đến loài người trên toàn cầu.

Chiến tranh hạt nhân khiến Trái Đất “méo mó” thế nào?

Các nhà nghiên cứu đã đặt bài toán với giả thiết về hậu quả từ một cuộc chiến tranh hạt nhân ở hai mức độ khác nhau. Họ nhấn mạnh, đây chỉ là giả thuyết và hoàn toàn không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào.

Ở cấp độ nhỏ

Xảy ra trong một khu vực trong phạm vi hẹp của quốc gia, trong đó mỗi phía cho nổ 50 quả bom nhỏ (tổng 100 quả) loại 15 koloton, tương đương quả bom ở Hiroshima năm 1945.

Tai họa đầu tiên sẽ là giết chết hàng loạt con người trong địa phận nổ bom. Cái chết này chủ yếu do những lý do cơ học như: Gia tăng áp suất, gió mạnh từ 250 đến 400km/giờ làm đổ sập nhà cửa và trụ điện…

Thảm họa hạt nhân sẽ giết chết hàng trăm triệu người ngay lập tức.
Thảm họa hạt nhân sẽ giết chết hàng trăm triệu người ngay lập tức.

Chưa kể, nhiệt độ tăng lên hàng nghìn độ gây ra những đám cháy khắp vùng.

Còn tiếp theo sau đó, những người sống sót sẽ tiếp tục bị chiếu bởi những tia bức xạ do các mảnh vỡ của bom vung ra khắp nơi, dẫn đến cái chết sớm hoặc bị bệnh tật kéo dài và chết chậm.

Đó là đối với con người. Còn đối với Trái Đất và sinh vật sống thì sao?

Một cuộc chiến tranh hạt nhân quy mô nhỏ sẽ làm nhiệt độ trái đất giảm 2 đến 3 độ. Lượng mưa hàng năm cũng giảm 9%.
Với 100 đầu đạn hạt nhân cùng nổ sẽ nén 5 triệu tấn carbon đen vào khí quyển. Nó sẽ hấp thụ nhiệt lượng từ Mặt Trời, ngăn chúng tiếp cận bề mặt Trái Đất.

Ảnh mô tả carbon đen ngăn cản ánh nắng Mặt Trời và sẽ gây tử vong cho con người.
Ảnh mô tả carbon đen ngăn cản ánh nắng Mặt Trời và sẽ gây tử vong cho con người.

Sau một thời gian, carbon đen sẽ rơi xuống theo mưa, nhưng các nhà khoa học không thể xác định chính xác thời gian chúng biến mất khỏi bầu khí quyển.

Sau một năm, nhiệt độ trung bình trên toàn Trái Đất sẽ giảm 1,1 độ C. Sau 5 năm, nhiệt độ Trái Đất sẽ giảm 3 độ C.

Nhưng 20 năm sau, nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng lên và chúng ta chỉ lạnh hơn 1 độ C so với trước khi chiến tranh hạt nhân nổ ra.

Ở cấp độ toàn diện

Cấp độ này xảy ra khi các nước sử dụng với số lượng lớn vũ khí hạt nhân tấn công toàn bộ một quốc gia, bao gồm cả mục tiêu quân sự và dân sự.

Cuộc tấn công như vậy nhằm phá hủy toàn bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quân sự của một quốc gia thông qua tấn công hạt nhân áp đảo.

Nếu xảy ra cuộc chiến hạt nhân trên quy mô toàn diện như thế này thì có thể khiến cho loài người tuyệt chủng.

Đây là một trong những thảm họa khiến loài người tự diệt vong.
Đây là một trong những thảm họa khiến loài người tự diệt vong. (Hình minh họa).

Hoặc, chỉ có một số ít sống sót (những người ở những vùng xa cuộc chiến) nhưng với mức sống và tuổi thọ chỉ tương đương với thời kỳ trước Trung cổ trong nhiều thế kỷ.

Ngoài ra, nó cũng sẽ hủy diệt hệ sinh thái và tác động khủng khiếp đến khí hậu Trái Đất.

“Mùa đông hạt nhân” là một giả thuyết mà các nhà khoa học Mỹ đưa ra vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Các nhà nghiên cứu cho rằng, sau chiến tranh hạt nhân, thời tiết và khí hậu Trái đất sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tức là đại chiến hạt nhân sẽ làm cho nhiệt độ bề mặt Trái Đất giảm ở mức rất lớn. Các vụ nổ hạt nhân trong không trung sẽ làm cho một lượng lớn khói bụi “chu du” vào lớp khí quyển.

Kết quả là, đại bộ phận bức xạ Mặt Trời đi vào tầng khí quyển bị lớp khói bụi hạt nhân này hấp thu và lượng ánh sáng Mặt trời xuống được tới Trái Đất giảm rõ rệt.

Đại chiến hạt nhân sẽ làm cho nhiệt độ bề mặt Trái đất giảm ở mức rất lớn.
Đại chiến hạt nhân sẽ làm cho nhiệt độ bề mặt Trái đất giảm ở mức rất lớn.

Bầu trời bị bao chùm bởi khói và bụi trở nên u ám, cây cối vì vậy không thể sống được dẫn đến lượng oxi giảm đi nhanh chóng, sự sống cũng lụi tàn.

Rõ ràng, một cuộc chiến tranh hạt nhân, dù lớn dù nhỏ, cũng tác hại lớn và gây chết chóc khôn xiết cho con người, không chỉ trong phạm vi một hai quốc gia tham chiến mà còn ảnh hưởng rộng lớn.

Thậm chí cho tất cả loài người trên toàn cầu; không loại trừ một quốc gia nào.

Bởi vậy, ngày nào vũ khí hạt nhân còn tồn tại thì nỗi ám ảnh về Ngày Tận thế khiến Trái Đất quay trở về thời tiền sử mấy trăm vạn năm trước sẽ luôn hiện diện.

 

Theo: Genk/Trí Thức Trẻ

14 sự kiện làm thay đổi lịch sử thế giới mãi mãi.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Có bao giờ bạn nhìn một chiếc xe tăng hay máy bay chiến đấu và tự hỏi : Sức mạnh quân sự của loài người trước đây như thế nào không?

Con người tìm ra lửa cách đây 1,4 triệu năm

Phát minh đầu tiên đánh dấu bước tiến hoá vượt bậc của loài người so với tổ tiên hoang dã đó là việc tìm và tạo ra lửa.

Trong khi những quần thể người trước đó như Homo erectus (người đứng thẳng) lợi dụng lửa trong tự nhiên do hoả hoạn gây ra, người Homo sapiens (người thông tuệ) đã thành công trong việc tự tạo ra ngọn lửa của riêng mình để phục vụ cho việc nấu ăn, sưởi ấm hay xua đuổi thú dữ….

Có thể nói, sự ra đời của lửa chính là khởi đầu của tất cả những “công nghệ” sau này của con người, dẫn đường cho một kỷ nguyên mới của những công cụ được rèn từ kim loại, mạnh mẽ hơn và quyền lực hơn.

Cung tên được phát minh 15.000 năm TCN

Những cây cung cổ nhất được tìm thấy tại đầm lầy Holmegaard ở Đan Mạch
Những cây cung cổ nhất được tìm thấy tại đầm lầy Holmegaard ở Đan Mạch.

Dù không biết chính xác thời điểm phát minh, nhưng những mũi tên và cung tên đầu tiên trên thế giới được cho là làm từ những nguyên liệu dễ bị hư hỏng. Những cây cung cổ nhất được tìm thấy tại đầm lầy Holmegaard ở Đan Mạch, có niên đại khoảng 9000 năm TCN. Con người đã biết dùng cung tên để săn bắn và chống lại kẻ thù.

Nhiều nghiên cứu cho thấy cung tên được sử dụng trong các cuộc xung đột quân sự cách đây khoảng 5400 TCN.

Phát minh ra bánh xe 3.500 TCN

Đến khoảng 2000 năm TCN, bánh xe được dùng làm công cụ đắc lực trong các cuộc chiến tranh.
Đến khoảng 2000 năm TCN, bánh xe được dùng làm công cụ đắc lực trong các cuộc chiến tranh.

Dù những chiếc bánh xe đầu tiên ra đời không được xác định rõ thời điểm chính xác, nhưng được dùng rất phổ biến từ khoảng 3.500 năm TCN. Những chiếc bánh xe cũng khơi nguồn sáng tạo cho nhiều phát minh sau đó như bàn xoay hay cối xay nước. Phát minh này thực sự là một bước tiến vô cùng quan trọng trong lịch sử quân đội của thế giới.

Đến khoảng 2000 năm TCN, nó dùng làm công cụ đắc lực trong các cuộc chiến tranh. Người Hittites cổ đại là những người đầu tiên trong lịch sử tìm ra công dụng của xe chiến mã trong các trận đánh.

Sự ra đời của Kỷ nguyên sắt 1.200 TCN

Người Hittites đã biết luyện sắt thành thép từ khoảng 1.400 năm TCN. Đến khoảng 1.200 năm TCN, những “công nghệ” từ sắt mới bắt đầu lan rộng từ Tiểu Á sang Châu Âu, Châu Phi và Châu Á.

Cuộc cách mạng sắt, thép ra đời đã thay đổi cuộc sống của con người về nhiều mặt.
Cuộc cách mạng sắt, thép ra đời đã thay đổi cuộc sống của con người về nhiều mặt.

Cuộc cách mạng sắt, thép ra đời đã thay đổi cuộc sống của con người về nhiều mặt. Những công cụ bằng sắt thép cứng hơn và dễ sử dụng hơn giúp tăng năng suất lao động, nhưng cũng là một trong những tác nhân khiến dân số bùng nổ.

Rồi vũ khí và áo giáp sắt cũng dần được thay thế khi con người tìm ra những kim loại khác như đồng. Những cuộc xung đột xảy ra không chỉ đơn giản là tranh giành lãnh thổ, cái ăn mà còn là sự giành giật nguồn cung cấp sắt, đồng.

Sự ra đời của bê tông (200 năm TCN)

Khoảng 200 năm TCN, người La Mã cổ đại đã bắt đầu xây dựng những công trình bằng bê tông.
Khoảng 200 năm TCN, người La Mã cổ đại đã bắt đầu xây dựng những công trình bằng bê tông.

Khoảng 200 năm TCN, người La Mã cổ đại đã bắt đầu xây dựng những công trình bằng bê tông. Nhờ khả năng chịu lực, kêt cấu vững chãi và không thấm nước, bê tông trở thành nguyên liệu chính của tất cả các công trình xây dựng từ cảng biển, đền thờ, điện, nhà ở, đến cầu cống.

Với sự trợ giúp của bê tông, những pháo đài trở nên kiên cố hơn làm chùn bước kẻ thù, những công trình độc đáo hơn cũng được ra đời đưa La Mã trở thành một đế chế hùng mạnh ít nơi nào sánh kịp.

Lý thuyết “Chiến tranh chính đáng” 426 năm TCN

Vào năm 426 TCN, St. Augustine của thành phố Hippo đã công bố tác phẩm của mình mang tên “The city of God” – thành phố của Chúa. Cuốn sách chứa đựng những tư tưởng của ông biện minh cho Cơ Đốc Giáo nghịch lại với các tôn giáo khác.

Lý thuyết chiến tranh chính đáng - được xây dựng bởi nhà Triết học Thomas Aquinas vào giữa những năm 1200.
Lý thuyết chiến tranh chính đáng – được xây dựng bởi nhà Triết học Thomas Aquinas vào giữa những năm 1200.

Những tư tưởng này dựa trên nền tảng là lý thuyết “Just War”– Chiến tranh chính đáng – được xây dựng bởi nhà Triết học Thomas Aquinas vào giữa những năm 1200. Tác phẩm của cả hai ông đều chứa một nội dung: “bằng cách nào một cuộc xung đột được coi là một cuộc chiến tranh chính đáng”.

Theo National Geographic, những cuộc chiến tranh chính đáng “phải được công khai bởi một cơ quan phù hợp… phải xuất phát từ một nguyên nhân chính đáng và mục đích sau cùng của nó là để thiết lập một nền hoà mình thực sự”.

Sự ra đời của bản đồ thế giới năm 1569

Cho đến năm 1569, rong ruổi trên biển khơi vẫn là một nghề vô cùng mệt mỏi và đầy thách thức. Các nhà hàng hải luôn phải dùng la bàn điều chỉnh hướng đi để vẽ bản đồ hành trình của mình. Tuy nhiên những bản đồ đó thường không có độ chính xác cao.

Gerardus Mercator đã phát minh ra bản đồ thế giới hiện đại đầu tiên trên thế giới vào năm 1569.
Gerardus Mercator đã phát minh ra bản đồ thế giới hiện đại đầu tiên trên thế giới vào năm 1569.

Là một người chuyên vẽ bản đồ ở vùng Flemish, Bỉ, Gerardus Mercator đã phát minh ra bản đồ thế giới hiện đại đầu tiên trên thế giới với những đường minh hoạ kinh tuyến và vĩ tuyến một cách chính xác và dễ hiểu hơn nhiều so với những bản đồ khác.

Phương pháp vẽ bản đồ của ông được sử dụng cho đến tận ngày nay đã giúp người đi biển xác định hướng đi và đánh dấu hải trình một cách chính xác và dễ dàng.

Dù vẫn còn thiếu châu Úc và châu Đại Dương, song sự ra đời của bản đồ thế giới là một bước tiến mới trong ngành hàng hải có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc xây chinh phục khám phá thế giới và khai phá Châu Âu.

Cách mạng Công nghiệp từ năm 1712

Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh ra đời do việc sử dụng sắt, thép kết hợp với việc phát hiện ra các nguồn năng lượng mới.
Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh ra đời do việc sử dụng sắt, thép kết hợp với việc phát hiện ra các nguồn năng lượng mới.

Việc sử dụng sắt và thép kết hợp với việc phát hiện ra các nguồn năng lượng mới đã thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp bùng phát ở Anh vào thế kỷ 18.

Lịch sử không thể không ghi lại cột mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của động cơ hơi nước vào năm 1712 bởi nhà khoa học Thomas Newcomen. Phát minh của ông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giúp tăng năng suất lao động, vận chuyển và thay thế sức lao động thủ công bằng máy móc. Sự kiện này chính là tiền đề cho những phát minh quan trọng sau này như tàu thuỷ, ô tô, máy bay, điện thoại, đài phát thanh và hệ thống vận hành nhà máy.

Chiếc điện thoại đầu tiên ra đời (năm 1876)

Năm 1876, chiếc điện thoại đầu tiên trên thế giới ra đời.
Năm 1876, chiếc điện thoại đầu tiên trên thế giới ra đời.

Ngày 07/03/1876, cơ quan bản quyền Hoa Kỳ quyết định tặng thưởng cho Alexander Graham Bell vì phát minh mà ông vừa cho ra đời. Đó là “một trong những sáng chế giá trị nhất trong lịch sử”.

Ba ngày sau khi nhận được giấy chứng nhận bản quyền, nhà phát minh đã dùng chính chiếc điện thoại vừa sáng chế để gọi điện cho trợ lí của mình đang ngồi ngay dưới hội trường“Watson, anh lên đây. Tôi đang cần gặp anh”.

Sau khi chiếc điện thoại đầu tiên ra đời và lan truyền đến nhiều châu lục. Cuộc gọi quốc tế đầu tiên được thực hiện vào năm 1927 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc gắn kết và đưa mọi người từ khắp nơi trên thế giới đến gần nhau hơn.

Máy bay ra đời (năm 1903)

Người Anh và người Ý đã thiết kế ra chiếc máy bay thả bom đầu tiên vào năm 1913.
Người Anh và người Ý đã thiết kế ra chiếc máy bay thả bom đầu tiên vào năm 1913.

Mặc dù chiếc máy bay của anh em nhà Wright chỉ bay được trong vòng 12 giây, song đó là lần đầu tiên trong lịch sử, môt cỗ máy “nặng hơn không khí” được điều khiển bởi con người có thể bay lượn trên không. Thiết kế đầu tiên (vào năm 1903) của hai nhà sáng chế đã được hoàn thiện sau đó và được đưa vào phục vụ trong cuộc chiến tranh thế giới thứ I (1914-1918).

Theo National Geographic, người Anh và người Ý đã thiết kế ra chiếc máy bay thả bom đầu tiên vào năm 1913. Không chịu kém cạnh, nước Pháp cũng bắt đầu gắn thêm súng máy cho những chiếc phi cơ chiến đấu của mình. Ngày nay, chỉ riêng nước Mỹ đã sở hữu khoảng 13.000 chiến cơ quân sự. Nga và Trung Quốc cũng là hai quốc gia có tiềm lực không quân mạnh trên thế giới với 2.000 đến 3.000 máy bay quân sự.

Chiến dịch Manhattan và vũ khí quyền lực nhất từng được biết đến trong lịch sử chiến tranh của nhân loại

Một tháng trước khi chiến tranh Thế giới thứ II bùng nổ, thiên tài người Đức Albert Einstein đã viết một bức thư dài 2 trang mở đầu cho cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân chống lại Đức quốc xã.

Nước Mỹ tung ra một chiến dịch mang tên "Manhattan Project" với mục đích thiết kế một loại vũ khí nguy hiểm
Nước Mỹ tung ra một chiến dịch mang tên “Manhattan Project” với mục đích thiết kế một loại vũ khí nguy hiểm.

Trong bức thư năm 1939, Einstein cảnh báo thủ tướng Franklin D. Roosevelt rằng một phản ứng hạt nhân dây chuyền từ uranium có thể cho ra đời những quả bom với sức tàn phá kinh khủng chưa từng có trong lịch sử – đó là bom nguyên tử.

Hai năm sau đó, nước Mỹ tung ra một chiến dịch mang tên“Manhattan Project” với mục đích thiết kế một loại vũ khí nguy hiểm chưa từng được sản xuất cho tới thời điểm đó.

8 giờ 15 phút, sáng ngày 6 tháng 8 năm 1945, thế giới kinh hoàng trước tiếng nổ khủng khiếp của quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới ( chứa 12.500 tấn TNT, rơi trong vòng 44,4 giây) dội xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản.

Chinh phục vũ trụ bao la

Năm 1954, lần đầu tiên, Nga đưa ra đề xuất xây dựng một vệ tinh nhân tạo. Trong vòng 3 năm, chiếc vệ tinh nhân tạo đầu tiên quay quanh Trái Đất mang tên Sputnik 1 ra đời.

Phi hành gia người Nga Yuri Gagarin vinh dự trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ.
Phi hành gia người Mỹ.

Năm 1958, kỹ sư hàng không của Đức Wernher von Braun hợp tác với quân đội Mỹ khởi động thành công vệ tinh Explorer 1.

Ba năm sau, phi hành gia người Nga Yuri Gagarin vinh dự trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ. Bước tiến nhảy vọt đã khiến nước Mỹ phải ghen tị mà “thề” sẽ là nước đầu tiên đưa con người bước chân lên mặt trăng – và điều đó đã trở thành thành hiện thực vào ngày 20 tháng 7 năm 1969.

Theo gót chân những cuộc chinh phạt vũ trụ đầu tiên trong lịch sử, những công ty tư nhân như Elon Musk’s SpaceX và Richard Branson’s Virgin Galactic cũng đang thực hiện những kế hoạch táo bạo mở ra một chân trời mới cho ngành du lịch không gian trong lương lai không xa.

Liên kết mạng Internet ( từ năm 1991)

Nhân loại bước vào một kỷ nguyên chưa từng có trong lịch sử phát triển khi World Wide Web (mạng lưới toàn cầu) ra đời vào cuối những năm 1960.
Nhân loại bước vào một kỷ nguyên chưa từng có trong lịch sử phát triển khi World Wide Web (mạng lưới toàn cầu) ra đời vào cuối những năm 1960.

Nhân loại bước vào một kỷ nguyên chưa từng có trong lịch sử phát triển khi nhà khoa học Tim Berners-Lee phát minh raWorld Wide Web (mạng lưới toàn cầu) vào cuối những năm 1960. Ông đã phát triển được “một phần mềm có thể tạo ra những đường dẫn liên kết giữa tất cả những tập tin liên quan trong máy tính của mình, liên kết nhiều máy tính với nhau. Từ đó, người dùng có thể chia sẻ những dữ liệu”.

Phần mềm đó được ông cho truy nhập công cộng vào năm 1991 và kể từ đó đến nay, đã có ít nhất là 3 tỷ người trên thế giới sử dụng Internet.

Y học tái tạo

Y học tái sinh cũng mang lại hy vọng cho những cựu chiến binh cụt tay chân,...
Y học tái sinh cũng mang lại hy vọng cho những cựu chiến binh cụt tay chân,…

Bước đi lớn đầu tiên đưa con người đến ngành y học tái tạo, phục hồi lại những bộ phận đã bị tổn thương hay đã mất là vào năm 1999, khi các bác sĩ tại trường Đại học Wake Forest University chế tạo thành công bàng quang từ tế bào gốc cho một bệnh nhân nhí tên là Luke Marsell.

Kể từ đó, các nhà nghiên cứu không ngừng tìm tòi và phát triển thêm các kỹ thuật phức tạp và ngày càng tinh vi hơn, không chỉ áp dụng được với các bộ phận như bàng quang, gan, xương mà còn áp dụng được với cả não bộ- cơ quan phức tạp nhất trong cơ thể con người.

Y học tái sinh cũng mang lại hy vọng cho những cựu chiến binh cụt tay chân,… những người may mắn trở về nhưng lại không lành lặn sau những cuộc chiến tranh đẫm máu.

Theo: Trí Thức Trẻ

4 nhà khoa học Việt trong danh sách “ảnh hưởng nhất thế giới”.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Danh sách nhà khoa học “ảnh hưởng nhất thế giới” của hãng Thomson Reuters công bố năm nay có tên bốn nhà khoa học Việt Nam.

Đó là giáo sư Nguyễn Sơn Bình (Đại học Northwestern, Mỹ), giáo sư Nguyễn Thục Quyên (Đại học Univ Calif Santa Barbara, Mỹ), giáo sư Võ Văn Ánh (Đại học Công nghệ Queensland, Australia) và phó giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (Đại học Y Khoa CMU Taichung, Đài Loan). Lần thứ hai liên tiếp, ông Nguyễn Sơn Bình và Nguyễn Xuân Hùng nằm trong danh sách này.

Giáo sư Nguyễn Sơn Bình làm việc tại Khoa học hóa Đại học Northwestern. Hiện ông tập trung nghiên cứu các thiết kế vật liệu mềm dành cho ứng dụng hóa học trong xúc tác, y học và khoa học vật liệu.

Giáo sư Nguyễn Sơn Bình.
Giáo sư Nguyễn Sơn Bình. (Ảnh: VOV).

Giáo sư Nguyễn Thục Quyên là giảng viên khoa học và hóa sinh của Đại học California. Bà tập trung nghiên cứu về các dụng cụ điện tử hữu cơ như quang điện, led.

Giáo sư Võ Văn Ánh làm việc tại Khoa Khoa học và Kỹ thuật, Đại học Công nghệ Queensland, Australia. Theo tạp chí Tia Sáng, lĩnh vực nghiên cứu của ông gồm mô hình ngẫu nhiên của quá trình khuếch tán phi tuyến; ước lượng thống kê và phép xấp xỉ của khuếch tán dị thường.

Phó giáo sư Nguyễn Xuân Hùng sinh năm 1976, quê ở Quảng Trị, hiện là giảng viên Đại học Công nghệ TP HCM (HUTECH) và Đại học Y Khoa CMU Taichung (Đài Loan). Ông tốt nghiệp Đại học Khoa học tự nhiên TP HCM sau đó du học tại Bỉ. Nghiên cứu của ông tập trung vào phát triển các công cụ tính toán mạnh và mô phỏng trên máy tính.

Phó giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (áo trắng hàng đầu).
Phó giáo sư Nguyễn Xuân Hùng (áo trắng hàng đầu). (Ảnh: Đại học Hutech).

Bốn nhà khoa học Việt Nam nằm trong danh sách hơn 3.000 nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Thomson Reuters là tổ chức hàng đầu thế giới về việc theo dõi và công bố thông tin tri thức về chuyên gia nghề nghiệp toàn cầu. Danh sách này được truyền thông thế giới, các trung tâm nghiên cứu, trường đại học đánh giá là bản thành tích khoa học khách quan nhất.

 

Theo: VnExpress

Những hiện tượng khoa học mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

“Trăm nghe không bằng một thấy” là đây.

Khoa học luôn kích thích tính tò mò của rất nhiều người, không ít thí nghiệm đã khiến chúng thắc mắc rằng: “Mạ thuật gì đang diễn ra vậy?”.Trong khi đó, chúng chỉ là những hiện tượng khoa học mà thôi. Dưới đây là những hình ảnh của các hiện tượng khoa học kỳ lạ đến mức có thể bạn lần đầu tiên chiêm ngưỡng.

Magic Sand - những tinh thể cát được phủ một lớp hóa chất không thấm nước trimethylsilanol (CH3)3SiOH.
Magic Sand – những tinh thể cát được phủ một lớp hóa chất không thấm nước trimethylsilanol (CH3)3SiOH.

Thắp sáng ngọn nến bằng khói của nó.
Thắp sáng ngọn nến bằng khói của nó.

Dung dịch gây ra hiện tượng nay có tên là băng nóng.
Dung dịch gây ra hiện tượng nay có tên là băng nóng, đây là dung dịch bão hòa của muối Natri axetat (CH3COONa – muối natri của axit axetic) được làm lạnh dưới mức nhiệt độ đóng băng, nhưng vẫn ở dạng dung dịch siêu lạnh.

Nam châm lỏng "nuốt chửng" khối kim loại.
Nam châm lỏng “nuốt chửng” khối kim loại.

Luminol (C8H7N3O2), chất phản quang sử dụng trong điều tra hình sự, phản ứng với oxy.
Luminol (C8H7N3O2), chất phản quang sử dụng trong điều tra hình sự, phản ứng với oxy.

Nước siêu lạnh đóng băng ngay lập tức khi tiếp xúc với đá.
Nước siêu lạnh đóng băng ngay lập tức khi tiếp xúc với đá.

Nung chảy khối kim loại bằng cách cho dòng điện chạy qua cuộn dây đồng tạo từ trường.
Nung chảy khối kim loại bằng cách cho dòng điện chạy qua cuộn dây đồng tạo từ trường.

 

Theo: Trí Thức Trẻ