Category Archives: DIỄN ĐẢN

THEO DÕI: DẤU HIỆU SINH TỒN.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Mục tiêu
1. Phân tích những yếu tố ảnh huởng đến dấu sinh tồn.
2. Trình bày mục đích, chỉ định của việc theo dõi dấu sinh tồn.
3. Mô tả dụng cụ đo lường dấu sinh tồn.
4. Lập quy trình chăm sóc khi có dấu sinh hiệu bất thường.
5. Rèn luyện ý thức thực hiện kỹ thuật đo dấu sinh tồn.
1. Đại cương
Dấu sinh tồn bao gồm: nhiệt độ, mạch, huyết áp, nhịp thở là những dấu hiệu chỉ rõ sự hoạt động của các cơ quan hô hấp, tuần hoàn và nội tiết, nó phản ánh chức năng sinh lý của cơ thể, thông thường được đo lường và theo dõi trên người bệnh, hoặc người thường để kiểm tra sức khoẻ định kỳ.
Theo dõi dấu sinh tồn giúp phát hiện những bất thường của bệnh tim mạch, hô hấp, thần kinh, và hệ thống nội tiết trong cơ thể. Ngoài ra những thay đổi về tình trạng sinh lý của cơ thể, những đáp ứng về thể chất, môi trường, tâm lý đều gây ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Những thay đổi này có thể xảy ra rất đột ngột hay kéo dài một khoảng thời gian. Do đó bất kỳ sự thay đổi bất thường nào của dấu sinh tồn đều cần được ghi nhận và báo với thầy thuốc để có những can thiệt kịp thời.
Dấu sinh tồn thứ năm là đau. Đôi khi người bệnh không có kinh nghiệm để diễn tả mức độ đau, nhưng nó là dấu hiệu mà họ đến khám bệnh.
2. Mục đích
− Theo dõi chức năng sinh lý (dấu sinh tồn) có nhiều mục đích khác nhau:
− Kiểm tra sức khoẻ định kỳ.
− Giúp chẩn đoán bệnh.
− Theo dõi tình trạng bệnh, diễn tiến bệnh.
− Theo dõi kết quả điều trị chăm sóc.
− Phát hiện biến chứng của bệnh.
− Kết luận sự sống còn của người bệnh.
3. Chỉ định
Kỹ thuật đo dấu sinh hiệu là nhiệm vụ thông thường của người điều dưỡng thực hiện khi:
− Nhận bệnh.
− Kiểm tra sức khỏe.
− Người bệnh đang nằm viện.
− Người bệnh trước và sau phẫu thuật.
− Trước và sau dùng thuốc ảnh hưởng hô hấp tim mạch, nhiệt độ …
− Tình trạng người bệnh có những thay đổi về thể chất (hôn mê, lú lẫn, đau).
− Bàn giao ca trực đối với người bệnh nặng.
− Người bệnh nhập viện, xuất viện, chuyển viện.
Đối với người bệnh đang nằm viện, Bộ Y tế quy định điều dưỡng ghi nhận kết quả vào phiếu theo dõi hai lần trong ngày vào buổi sáng và chiều, dù người bệnh có dấu sinh hiệu ổn định. Trong trường hợp tình trạng người bệnh đang hồi sức hay dấu sinh hiệu không ổn định thì cần theo dõi nhiều lần hơn.
4. Hướng dẫn thực hiện kỹ năng
Điều dưỡng có trách nhiệm phải theo dõi dấu sinh hiệu: biết phân tích sự thay đổi để có những quyết định can thiệp hợp lý.
Lựa chọn những dụng cụ để đo đếm phù hợp với tình trạng của người bệnh.
Điều dưỡng phải biết chỉ số dấu sinh hiệu bình thường, yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo đếm.
Điều dưỡng phải hiểu biết về tiền sử, bệnh sử, hướng điều trị, chỉ định dùng thuốc nhất là những can thiệp nào làm ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Điều dưỡng phải kiểm soát được các yếu tố môi trường làm ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Tùy theo tình trạng bệnh, điều dưỡng hội ý với bác sĩ để quyết định thời gian số lần theo dõi dấu sinh hiệu. Nếu kết quả dấu sinh hiệu thay đổi bắt đầu xấu dần, điều dưỡng cần theo dõi nhiều lần hơn dù không có ý kiến của thầy thuốc.
Điều dưỡng cần phối hợp kết quả đo lường dấu sinh hiệu và những dấu hiệu khác để xác định chẩn đoán điều dưỡng.
Điều dưỡng có thể hội ý với điều dưỡng khác trong tua trực khi ghi nhận kết quả dấu sinh hiệu bất thường.
Đối với người bệnh ngoại trú, dấu sinh hiệu được đo trước khi thực hiện việc khám bệnh.
A. THEO DÕI THÂN NHIỆT
Mục tiêu cụ thể
1. Trình bày những yếu tố ảnh hưởng đến thân nhiệt.
2. Phân biệt được các loại nhiệt kế.
3. Phân loại các mức độ sốt.
4. Nêu các yêu cầu chăm sóc người bệnh có thân nhiệt bất thường.
1. đại cương
Thân nhiệt là nhiệt độ cơ thể, được ký hiệu T0
Thân nhiệt được cân bằng giữa hai quá trình của tạo nhiệt và thải nhiệt, chịu ảnh hưởng một phần bởi môi trường bên ngoài.
Tạo nhiệt:
− Sự co mạch.
− Sự vận động, co cơ, rung giật cơ.
− Chuyển hoá các chất.
− Hoạt động của hệ nội tiết.
Thải nhiệt:
− Sự bài tiết qua hơi thở, mồ hôi, giảm khối lượng tuần hoàn.
− Sự dãn mạch ngoại biên.
− Do ức chế thần kinh.
Tuy nhiên nhiệt độ cơ thể còn chịu sự kiểm soát của trung khu điều hòa thân nhiệt ở vùng dưới đồi (Hypothalamus) và được duy trì trong giới hạn hẹp.
Các mô và tế bào trong cơ thể có khả năng chịu đựng nhiệt độ tốt nhất trong khoảng từ 360C – 380C, khoảng cách này có thể khác nhau tùy thuộc theo tuổi, giới tính, hoạt động thể chất và tình trạng sức khỏe của mỗi người.
Nhiệt độ trung bình của cơ thể: từ 36,50C – 370C
Sốt xảy ra khi cơ chế thải nhiệt mất khả năng quân bình nhiệt độ.
Khi thân nhiệt đo được cao hơn 37,50C thì gọi là sốt và khi thân nhiệt thấp hơn 360 thì gọi là hạ thân nhiệt.
Dụng cụ dùng để đo thân nhiệt gọi là nhiệt kế (Thermometer).
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thân nhiệt
Tuổi: trẻ em thân nhiệt thường cao hơn người lớn vì trung khu điều hòa thân nhiệt của trẻ chưa hoàn chỉnh nên dễ sốt cao do bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể và đôi khi kèm co giật. Người già vận động kém, nhu cầu chuyển hoá và hấp thu thấp nên thân nhiệt thường thấp so với người trẻ.
Khi hoạt động nhiệt độ tăng.
Nội tiết: phụ nữ nhiệt độ thương cao hơn nam giới đặc biệt trong thời kỳ rụng trứng.
Stress thường làm thay đổi nhiệt độ: tăng hoặc hạ nhiệt độ.
Nhiệt độ môi trường tác động đến thân nhiệt nhưng thay đổi không nhiều khoảng 0,50C. Đặc biệt ở người già hay trẻ em thường nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ môi trường hơn so với người trẻ.
Một số thuốc ảnh hưởng khả năng bài tiết mồ hôi, gây dãn mạch.
Thời gian đo thân nhiệt: nhiệt độ cơ thể thay đổi từ 0,50C đến 10C trong ngày. Nhiệt độ thấp nhất vào sáng sớm và cao nhất sau 6 giờ chiều.
Vị trí đo thân nhiệt: kết quả nhiệt độ có thể khác nhau tùy theo vị trí đo thân nhiệt.
3. Phân loại nhiệt kế
3.1. Phân loại theo chất liệu
STT Phân loại chất liệu nhiệt kế Ích lợi Bất lợi
1 Nhiệt kế thủy ngân Tiện dùng
Rẻ tiền
Thời gian: tuỳ theo vị trí đặt, trung bình 3 phút Dễ vỡ gây nguy hiểm do chứa thủy ngân ( Hg).
Dễ nguy cơ lây nhiễm nếu đặt ở miệng hoặc ở hậu môn
2 Nhiệt kế điện tử Cho kết quả trong thời gian ngắn 4 giây Dễ nguy cơ lây nhiễm nếu đặt ở miệng hoặc ở hậu môn
3 Nhiệt kế bằng hóa chất Dùng một lần rồi bỏ. Thường
dùng cho người bệnh cần cách ly
Thời gian trung bình 3 phút Khó đọc kết quả do phải quan sát màu sắc thay đổi
3.2. Phân loại theo vị trí
[IMG]

Hình 17.1. Các loại nhiệt kế đặt theo vị trí Read the rest of this entry

Sắc nhân sâm thế nào là tốt nhất?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Bây giờ, dùng nhân sâm để bồi bổ đã trở nên phổ biến, nhưng sắc nhân sâm như thế nào cho có hiệu quả nhất thì ít người biết.

Thông thường trước khi sắc, nhân sâm phải được cắt thành lát càng mỏng càng tốt. Muốn vậy, nhất thiết phải làm cho  nhân sâm mềm ra bằng cách cho củ sâm vào bát hoặc đĩa rồi bỏ vào nồi hấp cách thủy nhỏ lửa sao cho mềm là được. Sau đó dùng dao mỏng và sắc thái nhân sâm khi còn đang nóng. Trước khi thái nhân sâm nên bôi vào lưỡi dao một chút dầu thực vật đề phòng chất dính trong củ nhân sâm làm mút dao. Không nên thái ngang hay bổ dọc, mà nên nghiêng lưỡi dao 45 độ so với thân củ sâm nằm ngang, như vậy lát cắt mới mỏng và rộng, sợi chất xơ trong lát cắt ngắn, các thành phần hữu ích dễ dàng được chiết xuất ra ngoài khi sắc.

 

Trước khi sắc, nhân sâm phải được cắt thành lát mỏng.
Sắc nhân sâm tốt nhất là dùng loại cốc chuyên dụng có hai nắp. Trước tiên, lấy một nhúm gạo ngâm vào nước. Nước sắc tốt nhất là nước sôi để nguội vì trong quá trình đun sôi đã loại bỏ hết chất khí và khoáng chất hoà tan trong nước, nên nước khá tinh khiết. Nhưng chú ý phải đợi nước thật nguội mới cho vào, để tránh khi lát sâm bị nóng đột ngột một số chất trên bề mặt đông kết lại làm ảnh hưởng đến sự hoà tan của các chất bên trong lát sâm. Lượng nước đổ vào cốc do mục đích sử dụng khác nhau nên cũng không giống nhau. Thông thường nếu dùng với mục đích tăng cường sức khoẻ, trí não thì nên đổ lượng nước đủ để một người uống hết trong một lần. Sau khi đổ nước vào cốc thì bỏ lát sâm vào và đậy nắp trong, trên nắp trong phủ hai lớp giấy ăn, vẩy một chút nước cho giấy ẩm, trên lớp giấy ăn này rắc một lớp gạo đã ngâm từ trước và một chút nước, sau đó đậy nắp ngoài vào, như vậy coi như đã chuẩn bị xong cốc sắc nhân sâm.
Nếu không có cốc chuyên dụng thì có thể cho nhân sâm vào cốc pha trà, lấy một cái đĩa sứ nhỏ đậy lên, trên đĩa lót giấy ăn, rắc gạo ngâm như trình tự trên, sau đó đậy nắp ngoài của cốc lại.
Tiếp đó có thể dùng nồi cơm hoặc nồi cơm điện thông thường để sắc nhân sâm trong cốc. Trước tiên cho lượng nước vừa phải vào nồi, trên mặt nước đặt một cái giá, trên giá đặt một cái bát tô trong có nước và gạo, sau đó đặt cốc đựng nhân sâm vào bát tô, đậy nắp nồi lại là có thể bắt đầu hấp.
Cách sắc này có hai ưu điểm, thứ nhất là nắp trong đã lót giấy ướt và rắc gạo ngâm, vậy nên khi muốn kiểm tra xem canh nhân sâm đã được hay chưa thì chỉ cần quan sát xem gạo trong tô và gạo trên nắp cốc đã chín thành cơm chưa, “cơm chín thì canh cũng được”; thứ hai, do cốc đựng nhân sâm được bỏ trong bát tô chứa gạo, khi gạo chín thành cơm thì nó sẽ bao bọc lấy cốc, vậy nên cho dù nhiệt độ ngoài cốc lên xuống đột ngột thế nào thì nhiệt độ trong cốc vẫn giữ được ổn định, vì vậy canh sắc nhân sâm cũng đảm bảo được chất lượng tốt nhất.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Bài Huyết phủ trục ứ thang trị đau tức vùng ngực trái, phòng TBMMN, trị mỡ máu cao.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Bài Huyết phủ trục ứ thang trị đau tức vùng ngực trái, phòng TBMMN, trị mỡ máu cao.

Chứng đau tức ngực do huyết ứ khí trệ theo đông y cho rằng bệnh sinh là do khí tạng thận không đầy đủ, khiến cho dương khí của thận thiếu làm dương khí của ngũ tạng đều hư. Khiến cho khí thận âm không đầy đủ, thủy không dưỡng được mộc mà sinh ra tâm can âm hư, tâm can hỏa vượng lâu ngày làm tổn thương khí huyết dẫn đến khí huyết lưỡng hư.

Do đó công năng hoạt động của tạng tâm, tỳ, can, thận giảm sút sinh chứng đàm thấp cách trở gặp lạnh làm khí trệ, huyết ứ gây ra các hiện tượng đau thắt ở ngực. Ngoài ra còn có thể do nguyên nhân thất tình, thái quá, gây mệt mỏi quá độ làm tổn thương các tạng trên khiến cho tâm dương bất chấn, đàm trọc ứ trở, khí cơ bất thông, tâm mạch, lạc mạch tắc nghẽn, máu lưu thông không lợi, tim mất dinh dưỡng mà sinh ra bệnh.

Bởi vậy trong chứng này cần phải dùng bài cổ phương: Huyết phủ trục ứ thang, có công năng hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống.

Thang gồm đương qui 12 – 16g, đào nhân 8 – 16g, chỉ xác 6 – 8g, sài hồ 8 – 12g, cát cánh 6 – 8g, xuyên ngưu tất 6 – 12g, sinh đại hoàng 12 – 16, hồng hoa 6 – 12g, xích thược 8 – 12g, xuyên khung 6 – 8g, cam thảo 4g.

Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

Xét các vị có trong phương ta thấy đây là phương chủ trị chứng đau tức ngực do huyết ứ khí trệ. Nên trong phương thấy có các vị đương quy, đào nhân, hồng hoa có tác dụng hoạt huyết hóa ứ là chủ dược. Vị xuyên khung, xích thược lại hoạt huyết hòa âm. Ngưu tất hoạt huyết thông mạch, sài hồ, chỉ xác, cam thảo đều có công hiệu điều hòa các vị thuốc.

Tuy nhiên cũng cần căn cứ từng thể bệnh khác nhau mà gia giảm các vị cho thích hợp ví du như trường hợp mất ngủ gia thục, táo nhân, suy nhược khí hư gia đảng sâm để bổ trung ích khí. Dương hư bỏ sài hồ gia thục địa phụ tử, quế chi để ôn tâm dương. Trường hợp hạ sườn phải đau có khối u gia uất thuoc_tri_yeu_sinh_lykim, đan sâm để hoạt huyết tiêu tích.

Trường hợp tức ngực nặng gia xuyên khung, hồng hoa, tăng liều lượng đơn sâm.

Trên lâm sàng phương này còn có tác dụng chữa chứng đau đầu kéo dài, tăng huyết áp, chóng mặt đau đầu, đau thần kinh liên sườn, đau lưng sau đẻ do huyết ứ khí trệ có kết quả tốt.

Nếu bị huyết ứ ở đầu mặt như chứng điếc giảm thính lực, chứng mũi đỏ.

Có thể kết hợp dùng phụ phương:

Thông khiếu hoạt huyết thang có công hiệu hoạt huyết thông khiếu, gồm:

xích thược 8g, xuyên khung 8g, đào nhân 12g, hồng hoa 12g, củ hành già (cắt vụn) 3 củ, sinh khương 12g, xạ hương (xung phục) 10 – 12g.

Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Nếu chứng huyết ứ dưới cơ hoành hoặc hình thành khối u đau, kể cả xơ gan, gan lách to dùng phương:

Cách hạ trục ứ thang cũng có công hiệu nhất định, nhờ phương công hiệu hoạt huyết hóa ứ hành khí chỉ thống.

Gồm: ngũ linh chi (sao) 12g, đương qui 12g, xuyên khung 8g, đào nhân 12g, đơn bì 8 – 12g, xích thược 10g, ô dược 6 – 8g, diên hồ sách 4 – 6g, cam thảo 6 – 12g, hương phụ 6 – 8g, hồng hoa 6 – 10g, chỉ xác 6 – 8g.

Sắc uống ngày một thang.

Theo: Thiên Gia Diệu Phương

 

Phòng ngừa phì đại tiền liệt tuyến bằng cách dây ấn xoa bóp huyệt.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Tuyến tiền liệt phì đại (U xơ tuyến tiền liệt) là nỗi sợ của nam giới khi lớn tuổi. Đây là hiện tượng tăng sinh tuyến tiền liệt khi nam giới bắt đầu cao tuổi, và có xu hướng gia tăng. Các triệu chứng rối loạn tiểu tiện luôn làm cho người bệnh cảm thấy bứt rứt không yên. Tự xoa bóp là phương pháp phòng chứng bệnh này khá hiệu quả. Cùng tìm hiểu về phương pháp phòng bệnh hữu hiệu này nhé.

Phòng ngừa phì đại tiền liệt tuyến bằng cách xoa bóp 1

Cách xoa bóp phòng ngừa u xơ tuyến tiền liệt

Theo y học cổ truyền, bệnh này thuộc phạm vi các chứng như Long bế, Lâm chứng, Tinh long…với cơ chế bệnh sinh chủ yếu là do rối loạn công năng một số tạng phủ như phế, tì, can, thận dẫn đến hậu quả bàng quang không được khí hoá đầy đủ mà phát sinh thành bệnh.

Về mặt trị liệu, ngoài việc sử dụng thuốc, còn có một số biện pháp không dùng thuốc trong đó có cách tự lựa chọn và day bấm một số huyệt vị, châm cứu nhằm dự phòng tích cực và hỗ trợ điều trị. Dưới đây, xin được giới thiệu một quy trình cụ thể để độc giả tham khảo, vận dụng khi cần thiết.

Xoa bụng dưới

Dùng 2 bàn tay đặt chồng lên nhau sau đó xoa bụng theo chiều kim đồng hồ với một lực vừa phải chừng 30 vòng sao cho tại chỗ ấm lên được

Tác dụng của thao tác này là trợ dương khí cho hạ tiêu (làm ấm vùng bụng dưới) giúp quá trình khí hoá bàng quang (kích thích co bóp và làm giãn cơ thắt cổ bàng quang) được thuận lợi. Nhờ đó mà việc bài tiết nước tiểu được dễ dàng.

Day bấm huyệt Khí hải

Dùng ngón cái hoặc ngón tay trỏ day bấm huyệt này trong 1 phút. Vị trí của huyệt Khí Hải nằm ở dưới rốn 1,5 tấc trên đường trục giữa cơ thể. Theo y học cổ truyền, Khí hải là bể của sinh khí, là nguồn năng lượng cần thiết cung cấp cho sự sống, có công dụng điều khí, bổ thận dương, làm ấm hạ tiêu nhờ đó mà giúp cho chức năng khí hoá bàng quang được thực hiện. Y thư cổ Thái ngải thiên viết : “Khí hải là biển của sinh khí, nó chủ trị được tất cả các bệnh”.

Day bấm huyệt Quan nguyên

Cách làm như sau:

Dùng ngón cái hoặc ngón trỏ day bấm huyệt Quan nguyên trong 2 phút. Vị trí của huyệt này nằm ở dưới rốn 3 tấc trên đường trục giữa cơ thể. “Quan” có nghĩa là cái chốt đóng cửa, ý muốn nói là chỗ hiểm yếu ; “nguyên” có nghĩa là mới đầu, to lớn. Vì huyệt vị này là nơi chứa đựng nguyên khí, là nguồn năng lượng lớn rất cần cho sự sống cho nên được gọi là Quan nguyên. Day bấm huyệt này có tác dụng bổ thận cố bản, bổ khí hồi dương, làm ấm hạ tiêu, giúp cho quá trình khí hoá bàng quang được thuận lợi, cải thiện tình trạng rối loạn tiểu tiện.

Day bấm huyệt Lợi niệu

Dùng ngón tay cái hoặc ngón tay trỏ day bấm huyệt Lợi niệu trong 2 phút.Huyệt này nằm ở dưới rốn 2,5 tấc hay chính là trung điểm của đường nối rốn và điểm giữa bờ trên xương mu. Đây là một tân huyệt (huyệt mới), còn gọi là huyệt Chỉ tả, có công dụng chữa các chứng bệnh bí đái, đái rắt, đái dầm, đi lỏng do viêm ruột…

Theo kinh nghiệm của nhiều nhà châm cứu, có khi chỉ cần day bấm duy nhất huyệt vị này cũng đủ để cải thiện tình trạng rối loạn tiểu tiện, miễn sao phải xác định chính xác vị trí huyệt và tác động đúng kĩ thuật. Nghĩa là sau khi tìm đúng huyệt thì dùng ngón tay day đều theo chiều kim đồng hồ rồi từ từ bấm với một lực tăng dần kết hợp với rặn tiểu tích cực. Thông thường nếu xác định đúng huyệt thì việc đi tiểu sẽ dễ dàng hơn, tia nước tiểu mạnh hơn.

Day bấm huyệt Âm lăng tuyền

Cách làm như sau: Dùng ngón tay cái day bấm huyệt trong 1 phút. Vị trí huyệt Âm lăng tuyền là điểm gặp nhau ở chỗ lõm ở sau bờ sau trong đầu trên xương chày với đường ngang qua lồi củ trước xương chày, phía dưới bên trong đầu gối.

Vị trí của huyệt này nằm trên đường kinh tì, có khá nhiều công dụng, trong đó có khả năng điều hòa Bàng quang nên thường được dùng để chữa một số chứng bệnh bí đái, đái khó, đái dầm, đái không tự chủ. Cổ nhân thường sử dụng phối hợp với hai huyệt Khí hải và Tam âm giao.

Day bấm huyệt Tam âm giao

Dùng ngón tay cái day bấm huyệt trong 1 phút sao cho đạt cảm giác căng tức. Vị trí huyệt Tam âm giao ở chỗ lõm sát bờ sau trong xương chày, trên chỗ lồi cao nhất của mắt cá trong 3 tấc.

Đây là huyệt có liên hệ mật thiết với ba tạng Tỳ, Can và Thận. Tì và Thận lại có vai trò rất lớn trong việc khí hóa Bàng quang nên tác động vào huyệt Tam âm giao có thể trị các bệnh thuộc hệ tiết niệu và sinh dục, trong đó có các chứng trạng bí đái, đái khó, đái dầm…Trên thực tế các nhà châm cứu thường dùng Tam âm giao phối hợp với huyệt Trung cực và Thủy đạo hay Quan nguyên, Trung cực và Dương lăng tuyền để trị liệu chứng Long bế.

Day bấm huyệt Thái khê

Dùng ngón tay cái day bấm huyệt Thái khê trong 1 phút sao cho đạt cảm giác căng tức. Huyệt này nằm ở điểm giữa của đường nối bờ sau mắt cá trong và mép trong gân gót, ngang với mỏm cao nhất của mắt cá trong. Đây là một trong những huyệt vị quan trọng của đường kinh Thận, có công dụng bổ thận âm, làm mạnh lưng gối, làm khỏe dương khí nhờ đó mà tăng cường chức năng khí hóa của Bàng quang giúp cho việc bài tiết nước tiểu được dễ dàng.

Xát cột sống thắt lưng

Cách làm như sau: Dùng hai bàn tay đặt hai bên khối cơ cạnh cột sống thắt lưng xát lên xuống chừng 60 lần sao cho tại chỗ nóng lên là đạt yêu cầu. Thao tác này có tác dụng kích thích các du huyệt nằm dọc hai bên cột sống giúp cho quá trình khí hóa Bàng quang được thuận lợi.

Phát hiện phì đại tuyến tiền liệt như thế nào?

Khi có u xơ tuyến tiền liệt xuất hiện, người bệnh cần nhận biết sớm để có biện pháp điều trị tránh ảnh hưởng nhiều tới cuộc sống của mình. Sự xuất hiện của các khối u gây chèn ép niệu đạo và cổ bàng quang, cản trở dòng nước tiểu đi từ bàng quang ra ngoài. Các biểu hiện cụ thể như sau:

  • Tiểu khó, khi đi phải rặn mạnh, thời gian tiểu kéo dài, tia tiểu yếu, có khi không thành tia.
  • Đang tiểu thì bị dừng lại do tia yếu, nếu rặn cố thì lại có nước tiểu.
  • Bàng quang co bóp để chống lại sự tắc nghẽn nên người bệnh có biểu hiện của hội chứng kích thích như tiểu nhiều, số lần đi tiểu trong ngày tăng lên.
  • Tiểu ngắt quãng
  • Hiện tượng són tiểu vào cả ngày lẫn đêm

Trên đây là những biểu hiện của u xơ tuyến tiền liệt , nếu thấy xuất hiện những triệu chứng này bạn có thể nghi ngờ là mình đã mắc bệnh u xơ tuyến tiền liệt và phải đi khám ngay.

Những thực phẩm phòng ngừa tuyến tiền liệt phì đại

Tuy không quá khó để điều trị chứng phì đại tuyến tiền liệt, nhưng bao giờ phòng bệnh vẫn tốt hơn chữa bệnh. Mặt khác, việc điều trị khá tốn kém và khiến nhiều người cảm thấy xấu hổ. Lựa chọn một số thực phẩm quen thuộc có thể phòng ngừa được chứng bệnh phì đại nhưng lại kết hợp cải thiện sức khỏe của bản thân. Các thực phẩm bao gồm:

Bông cải trắng

Đây là loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng được dùng ở dạng nguyên chất, ngâm ép nước hoặc nấu chín. Trong bông cải rất ít chất béo, giàu chất xơ, folate, nước, vitamin C là những thành phần dinh dưỡng cao.

Bông cải trắng cũng chứa các hoạt chất rất có ích cho sức khỏe con người. Trong đó, sulforaphane là chất có tác dụng chống ung thư tuyến tiền liệt, chất này được phóng thích khi chúng ta nhai bông cải trong miệng; hợp chất indole-3-carbinol tác động như chất chống estrogen, làm chậm và ngăn cản sự tạo thành các cục bướu ở ngực phụ nữ và tuyến tiền liệt ở nam giới.

Ngoài ra, chúng còn chứa glucosinolates, cùng với sulforophane làm tăng chức năng thải độc của gan. Ăn nhiều bông cải giúp giảm nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học đã nghiên cứu thử trên 29.361 người đàn ông cho thấy số người dùng bông cải trong khẩu phần ăn nhiều hơn mỗi tuần một lần thì nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt giảm 52% so với những người chỉ ăn ít hơn một lần/tháng.

Cà chua

Cà chua 1

Cà chua được sử dụng khá nhiều trong các bữa ăn hàng ngày. Trong cà chua có chứa một lượng licopene rất cao, là chất có tác dụng chống ôxy hóa tế bào rất mạnh. Đặc biệt, sau khi được nấu chín trong dầu thực vật, licopene được phóng thích rất nhiều và nhờ đó có tác dụng ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt.

Kết quả nghiên cứu trên những người đàn ông thường ăn cà chua cho thấy chỉ cần ăn mỗi tuần từ 5-7 miếng cà chua thì nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có thể giảm từ 21%-34%.

Để có một tuyến tiền liệt khỏe mạnh, nam giới trên 55 tuổi nên ăn mỗi ngày 1/4 chén bông cải, 2 chén rưỡi cà chua tươi và một chén xốt cà chua.

Hạt bí rợ

Các hoạt chất trong hạt bí rợ đã được chứng minh có khả năng ngăn chặn sự phì đại tuyến tiền liệt dù ở dạng hạt khô hoặc ép lấy dầu. Ngoài ra, hạt bí còn có carotenoids, hợp chất steroid và axít béo omega-3 đều có hiệu quả tốt trên tuyến tiền liệt. Nam giới với chế độ ăn giàu carotenoids sẽ giảm nguy cơ phì đại tuyến tiền liệt.

Hạt bí rợ chứa nhiều khoáng tố như magiê, mangan, sắt, đồng và một hàm lượng cao kẽm nên có tác động tốt trên chức năng hoạt động của tuyến tiền liệt, đặc biệt là vai trò nâng đỡ tuyến tiền liệt. Hạt bí rợ còn là một nguồn dinh dưỡng rất tốt cho cơ thể.

Dưa hấu

Dưa hấu 1

Chứa nhiều chất chống ôxy hóa, dồi dào vitamin C và A. Dưa hấu đỏ có chứa rất nhiều beta-carotene và licopene là những chất trung hòa các gốc tự do gây tổn thương cho cơ thể (nguy hiểm nhất là các tế bào gây ung thư), có thể ngăn chặn nguy cơ tạo thành các tế bào ung thư.

Nghiên cứu của các nhà khoa học trên 130 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt, với chế độ ăn dưa hấu và uống thêm nước trà xanh mỗi ngày. Và kết quả cho thấy rằng, điều trị rất khả quan ở 86% trường hợp, so với những người không thực hiện chế độ này.

Chế độ ăn uống khi mắc phì đại tuyến tiền liệt

Nếu bạn rơi vào tình trạng mắc chứng phì đại tuyến tiền liệt, có thể tham khảo một số thông tin hữu ích về chế độ ăn uống hàng ngày giúp hỗ trợ điều trị bệnh và giảm thiểu các triệu chứng.

Nên ăn

  • Ăn nhiều các thực phẩm làm từ đậu nành, đậu xanh có tác dụng ức chế viêm tấy tiền liệt tuyến.
  • Nên ăn họ nhà rau cải, đặc biệt là bắp cải để tăng cường các chất oxy hóa giúp giải độc cho tiền liệt tuyến bị phì đại
  • Giá sống có tác dụng giảm thiểu nguy cơ biến thể ác tính ở các bệnh nhân phì đại tiền liệt tuyến.
  • Cà chua giúp ngăn ngừa ung thư tiền liệt tuyến
  • Ăn nhiều cá giúp tăng cường omega-3 giúp giảm viêm, tấy ở tiền liệt tuyến.

Kiêng ăn

  • Không nên ăn các loại mỡ động vật và các loại đạm từ động vật để hạn chế viêm tấy ở tuyến tiền liệt, giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt
  • Kiêng các thực phẩm có tính chất cay nóng như: ớt, gừng, hạt tiêu, cà phê,….
  • Hạn chế rượu bia

Ngoài ra, người bệnh nên có chế độ sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý. Không nên ngồi, nằm lâu một chỗ gây cương tụ máu ở vùng chậu, luyện tập và vận động các cơ có chức năng điều hoà khi đi tiểu tiện và đại tiện như các cơ thành bụng, cơ hoành và các cơ tầng sinh môn, tránh các yếu tố gây viêm đường tiết niệu.

Theo tuyentienliet.com.vn

VƯƠNG ĐẠO – 王道 và BÁ ĐẠO – 霸道 trong trị liệu pháp của YHCT – LUONGYVIET

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

VƯƠNG ĐẠO – 王道 và BÁ ĐẠO – 霸道 trong trị liệu pháp của YHCT – LUONGYVIET

VƯƠNG ĐẠO – 王道

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Con đường chân chính ngay thẳng của các bậc thánh vương thời cổ, dùng đức độ mà trị quốc.

BÁ ĐẠO – 霸道

Từ điển phổ thông

Ngang ngược, xấc láo

Từ điển trích dẫn
1. Đường lối thống trị dựa trên võ lực, hình pháp, quyền thế, v.v.
2. Cường hoành, ngang ngược.
3. Chỉ người ngang ngược, cường hoành.
4. Mãnh liệt, dữ dội. ◇Lão tàn du kí 老殘遊記: “Kim niên giá thuỷ, chân bá đạo! Nhất lai tựu nhất xích đa; nhất siếp tựu quá liễu nhị xích” 今年這水, 真霸道! 一來就一尺多; 一霎就過了二尺 (Đệ thập tứ hồi) Năm nay con nước này thật là dữ dội! Vừa mới cao hơn một thước, loáng một cái đã vượt quá hai thước!

Từ điển Nguyễn Quốc Hùng
Đường lối cai trị dựa trên sức mạnh.



VẤN: Thầy Thuốc trong hành nghề trị bệnh nên chọn đường lối nào: một là VƯƠNG ĐẠO hai là BÁ ĐẠO?

ĐÁP: Thưa chọn cả hai đường và tùy theo bệnh CẤP hay MÃN.

VẤN: Vui lòng nói rõ hơn!

ĐÁP:
Bệnh đang ào ạt đến như Hen suyễn, bn không thở được (có thể chết) cần dùng đến cách trị BÁ ĐẠO.

Bệnh của LÃO SUY cần bổ dưỡng thì nên chọn VƯƠNG ĐẠO trong trị liệu. Chỉ TUẤN BỔ khi bn đã suy kiệt.

VẤN: Giữa cách trị của BÁ và VƯƠNG, cách nào tốt hơn?

ĐÁP: Tùy thời, tùy nghi, tùy chứng và tùy yêu cầu của con bệnh. BÁ hay VƯƠNG đều là phương cách trị của Tiền Hiền xưa nay. Vấn đề là TÙY TÂM của Thầy Lang và cả của CON BỆNH.

*** Thông thường trong xh ngày nay người ta có cách nhìn khác xa khi xưa. DƯỢC ĐƯỜNG (NHÀ THUỐC) hoặc Phòng Mạch Thầy Lang nào có danh tiếng, đông BN là thầy giỏi.

– Thưa ĐÚNG – SAI đều là…
– ĐÚNG vì thỏa mãn được yêu cầu của con bệnh. Vì có THỜI Y, có QUẢNG CÁO. Có NHÂN HÒA, ĐỊA LỢI.
– SAI vì thường theo cách trị của BÁ ĐẠO. Vâng cách trị của BÁ ĐẠO có nhanh chóng giúp BN khỏi bệnh… Nhưng có thể để lại những di chứng hay phản ứng phụ ngoài ý muốn mà BN phải gánh lấy về dài lâu; hoặc sẽ tổn thọ

(mà không biết – ví dụ tuổi thọ của BN là 92. Nhưng nay qua BÁ ĐẠO liệu pháp, BN đã mãn phần vào năm 90 tuổi. Cụ giảm thọ 2 năm).

LUẬN BÀN:
Nên trong Ngành y Bậc TIÊN SƯ thường nhắc:

NHẤT THẾ Y TAM ĐẠI CÔNG HẦU KHANH TƯỚNG
NHẤT THẾ Y TAM ĐẠI BẦN CÙNG ĐẠO TẶC

Để tùy Y Sinh tu chính.

23.06.2016
Cẩn ghi
LUONGYVIET

Kinh Nghiệm Lâm Sàng của Danh Y Lê Đức Thiếp ÂM KIỆT BIẾN THÀNH DƯƠNG.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Kinh Nghiệm Lâm Sàng của Danh Y Lê Đức Thiếp ÂM KIỆT BIẾN THÀNH DƯƠNG.

Trích trong ‘Cuộc Đời Và Kinh Nghiệm Của Người Thợ Già Trị Bệnh’ của Lê Đức Thiếp, Việt Nam

Sách y ngày xưa ghi: “Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng, hàn ngộ hàn tắc tử’ (nhiệt bệnh mà gặp thuốc nhiệt sẽ phát cuồng, hàn chứng mà gặp thuốc hàn sẽ chết), để lưu ý các thầy thuốc trong việc chẩn đoán và điều trị, phải hết sức cẩn thận để tránh lầm lẫn gây biến chứng tai hại.

Thế nhưng cũng có nhiều trường hợp nhiệt ngộ nhiệt mà tắc tử, lại chết ngay khi thuốc vừa qua khỏi cổ (hạ hầu tức tử ) như bệnh án dưới đây.

Cụ già 70 tuổi, vẫn ăn uống điều hòa, đi lại nhanh nhẹn, khỏe mạnh bình thường, không có bệnh gì gọi là cố tật. Một hôm, cụ kêu nóng nẩy trong người, bứt rứt khó chịu rồi vài hôm sau nóng, không ói mửa, không khát nước, không nóng lạnh từng cơn như ngoại cảm thương hàn, không nhức đầu, đau mình, đại tiểu tiện vẫn bình thường. Cụ chỉ kêu mệt, nằm dài lăn lộn từng cơn, tự cầm quạt luôn tay phe phẩy, con cháu cũng hai quạt ngồi hầu.

Cụ lang Sách cho uống chỉ một mình Dã Sơn Sâm đã 6 ngày nay, không bớt. Khi tôi tới xem mạch (có thầy lang Sách ở đấy), thấy cả hai tay cùng Trầm, Vi, Tế, Tiểu, lúc đến thì nhanh, lúc về thì chậm. Tôi nói với cụ lang Sách đây là trường hợp ‘mạch bất hợp chứng’ (mạch hàn mà bệnh nhiệt), ‘ mạch bất hợp lực’ (mạch yếu mà người mạnh). Cụ Sách nhận định là tôi nói đúng.
Cụ hỏi ý kiến tôi về việc cho thuốc uống. Tôi chưa kịp nói, bà cụ già nói ngay: “Thưa thầy và cụ lang, ý kiến tôi muốn dùng thang thuốc do cụ cắt hôm qua và đã sắc rồi, bao nhiêu Sâm cứ để cho cụ ông tôi uống thử xem sao?

Tôi đáp: Dạ, việc đó là quyền nơi cụ và cụ lang, nhưng xin cụ lang có thể cho biết thuốc hôm qua đã cắt những gì ? Cụ Sách bảo: ‘Tôi cắt bài Lý Trung Thang đấy thầy ạ (Nhân sâm 20g, Bạch truật 12g, Sinh khương 4g, Chích thảo 1g, Phụ tử 4g), thêm Ngũ vị tử 2g.

Cụ giải thích: “Sâm làm quân dược, còn mấy vị tá sứ kia mỗi thứ chút ít mà. Mạch nhỏ là nội hàn mà nóng ngoài là dương phù việt. Ta cho uống như thế là bổ dương để ôn hàn mà liễm dương lại, ý kiến thầy thế nào?

Ngay lúc đó, người nhà đã bưng chén thuốc lên. Ông cụ già ngồi dậy, tay phe phẩy quạt, thấy chén thuốc, cụ vơ lấy uống luôn. Cụ vừa nuốt xuống khỏi cổ, ngắc ngắc vài tiếng. Người nhà vội đỡ cụ, cụ chết ngay đang khi đỡ cụ.

Thế là hai thầy thuốc trâng hẩng nhìn nhau như muốn hỏi nhau mà chưa ai trả lời.
Tôi suy nghĩ : Tại sao bệnh này, uống bài Lý Trung Thang vào khỏi cổ mà chết ngay?
Vậy thì tại bệnh đến giờ chết hay tại thuốc?
Tôi dám quả quyết rằng tại thuốc.
Vì âm đến độ suy cực thì biến thành khô ráo (dương).
Dương đó hợp với dương bên ngoài là dương thịnh cực, vì vậy phát nóng, phát phiền, bắt quạt.

Vậy bệnh này là ‘dương thịnh cực mà âm khô kiệt’.

Chính ra phải cho uống thuốc dưỡng âm thì còn may ra kéo dài ngày sống.

Nếu lầm tưởng mạch Trầm, Vi, Tế, Tiểu này là dương suy rồi đem nhiệt dược để bổ dương thì nhiệt ngộ nhiệt, chết ngay.

Đó là chết tại thuốc. Nên biết rằng mạch Trầm, Vi,Tế, Tiểu và tay chân mát thì mới uống Lý Trung Thang. Bệnh này, mạch Trầm, Vi, Tế, Tiểu nhưng mình nóng ấm, bắt quạt, mà lại cho uống Lý Trung Thang là nhiệt dược, tức nhiệt ngộ nhiệt mà chết ngay.

DÙNG LẦM THUỐC HÀN – Cái chết đến không kịp trở tay.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

DÙNG LẦM THUỐC HÀN – Cái chết đến không kịp trở tay.

Sách xưa từng ghi: “Hàn ngộ hàn tắc tử “ (chúng hàn mà dùng thuốc hàn thì chết), cái chết đến không kịp trở tay và đem lại nhiều hối tiếc cho các thầy thuốc không suy xét kỹ lưỡng.

Trích trong ‘Đắc Tâm Tập Y Án’ của Tạ Ương Lô, Trung Quốc

Người học trò của tôi hỏi tôi: “ Hôm qua con có gặp trường hợp một em bé bị thổ tả, thầy thuốc cho là hỏa, dùng lầm loại thuốc hàn lương như Hoàng cầm, Hoàng liên, Chi tử. Uống xong 2 thang liên tiếp, chứng tả ( ỉa) tuy có bớt nhưng lại gây ra chứng quyết (lạnh chân tay) rồi hôn mê.
Mạch chuyển sang Trầm Sắc, môi và mặt đều trắng bệch, rõ ràng là chứng hư hàn không có hỏa.
Thầy thuốc đó tỉnh ngộ dùng Phụ Quế Lý Trung (tức là bài Lý Trung – Nhân sâm 20g, Bạch truật 12g, Sinh khương 4g, Chích thảo 1g. Thêm Phụ tử 4g, Quế chi 4g) nhưng thuốc qua khỏi cổ thì chứng tả lại tháo ra như trút, tả luôn một lúc rồi chết.

Như vậy thì các khiếu và mạch lại không đủ để làm bằng chứng hay sao?

Tôi trả lờ i: Uống dồn tiếp loại thuốc hàn lương chứng tả tuy có giảm, nhưng nếu đúng là chứng nhiệt thì thần trí đáng lẽ phải thanh thản chứ có bao giờ lại sinh ra quyết nghịch rồi hôn mê đi như vậy?
Đó chính là do dương khí suy kiệt, lại cũng nhờ đó, ta mới chứng minh được rằng dùng thuốc hàn lương nhiều quá (vào lúc đáng lẽ cần phải ôn bổ) làm ngưng bít Trung tiêu làm cho không thể chuyển đi được, giống như khi trời lạnh quá, nước đông lại thành băng nên không chảy nữa.
Sau đó, vì dùng thuốc nóng, cho uống gấp vào nên dương khí thông hành, và cũng giống như khi băng tan ra, tuyết chảy ra, nước ở sông ngòi tranh nhau đổ ra biển gây ra ỉa nhiều, chỉ tiếc là dương khí đã suy kiệt không còn đủ sức hút lên, vì thế, bảo sao mà không vừa tả vừa hạ thoát.