Daily Archives: 18/07/2016

Đại Hàn xây dựng xa lộ rẻ nhất thế giới như thế nào?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Đại Hàn xây dựng xa lộ rẻ nhất thế giới như thế nào?

Hệ thống giao thông công cộng của Hàn Quốc được đánh giá thuộc diện tốt nhất thế giới về “tính hiệu quả, giá thành, độ tin cậy và đổi mới”. Trong những kỳ công của hệ thống đó phải kể đến xa lộ Seoul-Busan, công trình xây dựng cầu đường lớn nhất trong lịch sử nước này.

 

 Xa lộ Seoul – Busan là một trong những công trình đã giúp Hàn Quốc bứt phá ngoạn mục thành một trong những cường quốc thế giới. Tuyến đường nối thành phố thủ đô tới hải cảng Busan ở phía nam được xây dựng dưới thời Tổng thống Park Chung Hee.
Hàn Quốc, xa lộ, kỳ công, Park Chung Hee
Một phần xa lộ Seoul-Busan nhìn từ trên cao.

Khi đó, người đứng đầu chính quyền Seoul đặt ra hai mục tiêu: giải quyết giao thông cho phát triển kinh tế và đem lại cho người dân Hàn Quốc một niềm tin mới về khả năng xây dựng và sáng tạo của họ.

Khi nêu ra đề án xây dựng xa lộ với 4 làn xe chạy, vươn qua những rặng núi và địa thế hiểm trở, Park Chung Hee đã đối mặt với rất nhiều khó khăn. Ở trong nước, Quốc hội phản đối thẳng thừng, và nhiều nhà lập pháp, kể cả các thành viên thuộc đảng cầm quyền, không tin dự án sẽ thành công. Họ cho rằng, chi phí xây dựng và bảo trì con đường sẽ đẩy Hàn Quốc tới bờ vực phá sản. Ở ngoài nước, Ngân hàng Thế giới (WB) cùng không ít thể chế tài chính khác cũng có nhận định tương tự.

Trước đó, vào năm 1964, Park Chung Hee đã tới thăm Tây Đức và ấn tượng rất lớn với hệ thống xa lộ Autobahn. Sau khi trở về từ hành trình này, ông đã coi việc xây dựng xa lộ là một vấn đề hàng đầu của đất nước.

Vấp phải sự phản đối nhưng Park Chung Hee vẫn đề cao quyết tâm. Ông tập hợp các báo cáo chuyên ngành và của cố vấn ở trong nước cũng như ngoài nước, thu thập tất cả những tài liệu về xây dựng xa lộ từ miền núi Andes ở Nam Mỹ tới Siberia của Liên Xô, rồi tự mình nghiền ngẫm. Sau đó, cùng với các kỹ sư xây dựng, ông đích thân đi trực thăng lên, xuống và lượn qua khắp những vùng núi non hiểm trở để khảo sát địa hình và ghi nhận thực tế.

Ngày 1/2/1968, Park Chung Hee ra lệnh khởi công dự án có độ dài 428km, băng qua hơn 200 cây cầu và 6 đường hầm chính. Đến hết tháng 6/1970, phần thi công cuối cùng ở đoạn Daejeon – Daegu hoàn tất và xa lộ lớn nhất trong lịch sử Hàn Quốc chính thức khai thông.

Các chuyên viên vận tải thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, với số tiền chỉ 330 USD xây dựng một km đường, đây là chi phí thấp nhất trong lịch sử xây dựng xa lộ loại này.

Và đúng như những gì Park Chung Hee kỳ vọng, trong 3 năm đầu, xa lộ Seoul – Busan đã được sử dụng hữu hiệu để phục vụ cho một khu vực tạo ra 70% tổng sản lượng quốc gia, và chiếm tới 80% lượng xe lưu thông trong nước. Con đường kết nối hiệu quả cả về địa hình lẫn thời gian giữa các nhà máy sản xuất và các khu vực tiêu thụ, góp phần giúp cho Hàn Quốc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mong đợi.

Một kỹ sư thuộc Bộ Xây dựng Hàn Quốc đã làm việc trực tiếp 18 tháng ở Công trường Xây dựng Xa lộ đã mô tả về Park Chung Hee như sau: “Sau một thời gian, tôi thấy ông giống một nhạc trưởng. Với chiếc trực thăng và cây gậy, ông lên xuống, lần này với một toán nhà địa chất để tìm hiểu có gì trục trặc mà vách núi đã sập trên những người xây dựng đường hầm, lần khác với mấy nhà thủy học của Liên Hợp Quốc để kiểm tra các họa đồ viên đã ghi sai mực nước ngầm ra sao. Nếu ngày thứ Ba không có được câu trả lời thì ông sẽ trở lại với vấn đề này ngày thứ Năm hoặc thứ Bảy”.

Ký giả Michael Keon cũng ghi lại một sự kiện cho thấy Park Chung Hee đã coi việc hoàn thành con đường như là một nhiệm vụ lịch sử, khi chính ông đích thân làm lễ tuyên thệ cho những sĩ quan trẻ được tuyển chọn trong Đoàn Kỹ sư Công binh làm đốc công và chuyên viên sửa chữa máy móc, với lời thề: “Nguyện hiến thân cho Tổ quốc phồn vinh, cho Nhân dân hạnh phúc. Chịu bất cứ hình phạt gì nếu không làm tròn nhiệm vụ”.

Dưới thời Park Chung Hee, tiết kiệm là quốc sách. Trong nhiều bài diễn văn, ông đã nhắc đi nhắc lại: “Mỗi xu ngoại tệ là một giọt máu”.

Thanh Hảo

Advertisements

THEO DÕI: DẤU HIỆU SINH TỒN.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Mục tiêu
1. Phân tích những yếu tố ảnh huởng đến dấu sinh tồn.
2. Trình bày mục đích, chỉ định của việc theo dõi dấu sinh tồn.
3. Mô tả dụng cụ đo lường dấu sinh tồn.
4. Lập quy trình chăm sóc khi có dấu sinh hiệu bất thường.
5. Rèn luyện ý thức thực hiện kỹ thuật đo dấu sinh tồn.
1. Đại cương
Dấu sinh tồn bao gồm: nhiệt độ, mạch, huyết áp, nhịp thở là những dấu hiệu chỉ rõ sự hoạt động của các cơ quan hô hấp, tuần hoàn và nội tiết, nó phản ánh chức năng sinh lý của cơ thể, thông thường được đo lường và theo dõi trên người bệnh, hoặc người thường để kiểm tra sức khoẻ định kỳ.
Theo dõi dấu sinh tồn giúp phát hiện những bất thường của bệnh tim mạch, hô hấp, thần kinh, và hệ thống nội tiết trong cơ thể. Ngoài ra những thay đổi về tình trạng sinh lý của cơ thể, những đáp ứng về thể chất, môi trường, tâm lý đều gây ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Những thay đổi này có thể xảy ra rất đột ngột hay kéo dài một khoảng thời gian. Do đó bất kỳ sự thay đổi bất thường nào của dấu sinh tồn đều cần được ghi nhận và báo với thầy thuốc để có những can thiệt kịp thời.
Dấu sinh tồn thứ năm là đau. Đôi khi người bệnh không có kinh nghiệm để diễn tả mức độ đau, nhưng nó là dấu hiệu mà họ đến khám bệnh.
2. Mục đích
− Theo dõi chức năng sinh lý (dấu sinh tồn) có nhiều mục đích khác nhau:
− Kiểm tra sức khoẻ định kỳ.
− Giúp chẩn đoán bệnh.
− Theo dõi tình trạng bệnh, diễn tiến bệnh.
− Theo dõi kết quả điều trị chăm sóc.
− Phát hiện biến chứng của bệnh.
− Kết luận sự sống còn của người bệnh.
3. Chỉ định
Kỹ thuật đo dấu sinh hiệu là nhiệm vụ thông thường của người điều dưỡng thực hiện khi:
− Nhận bệnh.
− Kiểm tra sức khỏe.
− Người bệnh đang nằm viện.
− Người bệnh trước và sau phẫu thuật.
− Trước và sau dùng thuốc ảnh hưởng hô hấp tim mạch, nhiệt độ …
− Tình trạng người bệnh có những thay đổi về thể chất (hôn mê, lú lẫn, đau).
− Bàn giao ca trực đối với người bệnh nặng.
− Người bệnh nhập viện, xuất viện, chuyển viện.
Đối với người bệnh đang nằm viện, Bộ Y tế quy định điều dưỡng ghi nhận kết quả vào phiếu theo dõi hai lần trong ngày vào buổi sáng và chiều, dù người bệnh có dấu sinh hiệu ổn định. Trong trường hợp tình trạng người bệnh đang hồi sức hay dấu sinh hiệu không ổn định thì cần theo dõi nhiều lần hơn.
4. Hướng dẫn thực hiện kỹ năng
Điều dưỡng có trách nhiệm phải theo dõi dấu sinh hiệu: biết phân tích sự thay đổi để có những quyết định can thiệp hợp lý.
Lựa chọn những dụng cụ để đo đếm phù hợp với tình trạng của người bệnh.
Điều dưỡng phải biết chỉ số dấu sinh hiệu bình thường, yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo đếm.
Điều dưỡng phải hiểu biết về tiền sử, bệnh sử, hướng điều trị, chỉ định dùng thuốc nhất là những can thiệp nào làm ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Điều dưỡng phải kiểm soát được các yếu tố môi trường làm ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Tùy theo tình trạng bệnh, điều dưỡng hội ý với bác sĩ để quyết định thời gian số lần theo dõi dấu sinh hiệu. Nếu kết quả dấu sinh hiệu thay đổi bắt đầu xấu dần, điều dưỡng cần theo dõi nhiều lần hơn dù không có ý kiến của thầy thuốc.
Điều dưỡng cần phối hợp kết quả đo lường dấu sinh hiệu và những dấu hiệu khác để xác định chẩn đoán điều dưỡng.
Điều dưỡng có thể hội ý với điều dưỡng khác trong tua trực khi ghi nhận kết quả dấu sinh hiệu bất thường.
Đối với người bệnh ngoại trú, dấu sinh hiệu được đo trước khi thực hiện việc khám bệnh.
A. THEO DÕI THÂN NHIỆT
Mục tiêu cụ thể
1. Trình bày những yếu tố ảnh hưởng đến thân nhiệt.
2. Phân biệt được các loại nhiệt kế.
3. Phân loại các mức độ sốt.
4. Nêu các yêu cầu chăm sóc người bệnh có thân nhiệt bất thường.
1. đại cương
Thân nhiệt là nhiệt độ cơ thể, được ký hiệu T0
Thân nhiệt được cân bằng giữa hai quá trình của tạo nhiệt và thải nhiệt, chịu ảnh hưởng một phần bởi môi trường bên ngoài.
Tạo nhiệt:
− Sự co mạch.
− Sự vận động, co cơ, rung giật cơ.
− Chuyển hoá các chất.
− Hoạt động của hệ nội tiết.
Thải nhiệt:
− Sự bài tiết qua hơi thở, mồ hôi, giảm khối lượng tuần hoàn.
− Sự dãn mạch ngoại biên.
− Do ức chế thần kinh.
Tuy nhiên nhiệt độ cơ thể còn chịu sự kiểm soát của trung khu điều hòa thân nhiệt ở vùng dưới đồi (Hypothalamus) và được duy trì trong giới hạn hẹp.
Các mô và tế bào trong cơ thể có khả năng chịu đựng nhiệt độ tốt nhất trong khoảng từ 360C – 380C, khoảng cách này có thể khác nhau tùy thuộc theo tuổi, giới tính, hoạt động thể chất và tình trạng sức khỏe của mỗi người.
Nhiệt độ trung bình của cơ thể: từ 36,50C – 370C
Sốt xảy ra khi cơ chế thải nhiệt mất khả năng quân bình nhiệt độ.
Khi thân nhiệt đo được cao hơn 37,50C thì gọi là sốt và khi thân nhiệt thấp hơn 360 thì gọi là hạ thân nhiệt.
Dụng cụ dùng để đo thân nhiệt gọi là nhiệt kế (Thermometer).
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thân nhiệt
Tuổi: trẻ em thân nhiệt thường cao hơn người lớn vì trung khu điều hòa thân nhiệt của trẻ chưa hoàn chỉnh nên dễ sốt cao do bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể và đôi khi kèm co giật. Người già vận động kém, nhu cầu chuyển hoá và hấp thu thấp nên thân nhiệt thường thấp so với người trẻ.
Khi hoạt động nhiệt độ tăng.
Nội tiết: phụ nữ nhiệt độ thương cao hơn nam giới đặc biệt trong thời kỳ rụng trứng.
Stress thường làm thay đổi nhiệt độ: tăng hoặc hạ nhiệt độ.
Nhiệt độ môi trường tác động đến thân nhiệt nhưng thay đổi không nhiều khoảng 0,50C. Đặc biệt ở người già hay trẻ em thường nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ môi trường hơn so với người trẻ.
Một số thuốc ảnh hưởng khả năng bài tiết mồ hôi, gây dãn mạch.
Thời gian đo thân nhiệt: nhiệt độ cơ thể thay đổi từ 0,50C đến 10C trong ngày. Nhiệt độ thấp nhất vào sáng sớm và cao nhất sau 6 giờ chiều.
Vị trí đo thân nhiệt: kết quả nhiệt độ có thể khác nhau tùy theo vị trí đo thân nhiệt.
3. Phân loại nhiệt kế
3.1. Phân loại theo chất liệu
STT Phân loại chất liệu nhiệt kế Ích lợi Bất lợi
1 Nhiệt kế thủy ngân Tiện dùng
Rẻ tiền
Thời gian: tuỳ theo vị trí đặt, trung bình 3 phút Dễ vỡ gây nguy hiểm do chứa thủy ngân ( Hg).
Dễ nguy cơ lây nhiễm nếu đặt ở miệng hoặc ở hậu môn
2 Nhiệt kế điện tử Cho kết quả trong thời gian ngắn 4 giây Dễ nguy cơ lây nhiễm nếu đặt ở miệng hoặc ở hậu môn
3 Nhiệt kế bằng hóa chất Dùng một lần rồi bỏ. Thường
dùng cho người bệnh cần cách ly
Thời gian trung bình 3 phút Khó đọc kết quả do phải quan sát màu sắc thay đổi
3.2. Phân loại theo vị trí
[IMG]

Hình 17.1. Các loại nhiệt kế đặt theo vị trí Read the rest of this entry

Chế tạo thành công robot “mẹ” tự “đẻ con” và tiến hóa.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Thông tin nghe có vẻ như trong chuyện khoa học viễn tưởng, nhưng các nhà nghiên cứu thực tế vừa tạo ra những robot có khả năng đẻ con và tiến hóa mà không cần sự can thiệp của con người.

 Các chuyên gia robot học đã chế tạo một cỗ máy “mẹ”, có thể tự sản xuất “các con” của chính nó và kiểm nghiệm xem những robot con nào thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ nhất định. Robot “mẹ” sau đó sử dụng các kết quả này để khai báo thiết kế về “đứa con” tiếp theo, sao cho những đặc điểm ưu việt hơn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp, tương tự như cách thức của quá trình chọn lọc tự nhiên ở động vật.

Robot biết đẻ con là sản phẩm sáng tạo của một nhóm kỹ sư thuộc Đại học Cambridge (Anh), do tiến sĩ Fumiya Iida đứng đầu. Tiến sĩ Iida và các cộng sự đã thiết kế robot “mẹ” và lập trình cho nó có khả năng chế tạo một robot đơn giản, có thể cử động được.

Từ thời điểm này, không cần thêm bất cứ sự can thiệp nào của con người hoặc quá trình mô phỏng của máy tính, robot “mẹ” tự sản sinh ra con cấu tạo gồm 1 – 5 khối chất dẻo cùng một động cơ nhỏ bên trong.

Trong mỗi thử nghiệm riêng rẽ khác nhau, robot mẹ thiết kế, chế tạo và kiểm nghiệm một thế hệ gồm 10 đứa con, sử dụng thông tin thu thập được từ thế hệ này để khai báo thiết kế cho thế hệ tiếp theo. Kết quả cuối cùng ghi nhận, các đặc điểm ưu việt hơn đã được truyền qua nhiều thế hệ robot và các robot tốt nhất trong thế hệ cuối cùng thực hiện một công việc định trước nhanh gấp đôi các robot tốt nhất trong thế hệ đầu tiên.

“Chọn lọc tự nhiên về cơ bản là sinh sản, đánh giá, tái sinh sản, đánh giá và lặp đi lặp lại tiến trình đó. Nhìn chung, đây là điều mà robot mẹ đang làm. Chúng ta có thể thực sự quan sát việc cải thiện và đa dạng hóa của loài”, tiến sĩ Iida giải thích.

Theo tiến sĩ Iida, mỗi robot con ra đời từ một “hệ gen” độc nhất vô nhị, là sự kết hợp giữa 1 – 5 “gen” (thực chất là các khối chất dẻo) khác nhau, chứa đựng mọi thông tin về hình dáng, cấu trúc và các lệnh vận động.

Cũng giống như trong tự nhiên, quá trình tiến hóa ở robot diễn ra thông qua“quá trình đột biến”, trong đó các thành phần của 1 gen được biến đổi hoặc các gen đơn lẻ được thêm vào hoặc bớt đi và “lai tạo” (một gen mới được hình thành thông qua hòa trộn các gen từ 2 cá thể).

Để robot mẹ xác định đứa con nào là ưu việt nhất, mỗi robot con được kiểm tra về khả năng di chuyển xa tới đâu từ vị trí xuất phát, trong một khoảng thời gian nhất định. Các cá thể thành công nhất trong mỗi thế hệ vẫn giữ nguyên không đổi trong thế hệ tiếp theo để bảo tồn các khả năng của chúng, trong khi sự đột biến và lai tạo được thực hiện ở những cá thể con kém thành công hơn.

Nhóm nghiên cứu khám phá ra rằng, điều đó giúp tạo ra sự biến hóa thiết kế và cải thiện khả năng của các thế hệ robot theo thời gian.

Nghiên cứu của họ tập trung xem xét cách các robot có thể được cải thiện như thế nào, chẳng hạn như trí tuệ hay sự vận động, thông qua học hỏi từ tự nhiên. Một robot hiện đòi hỏi mức năng lượng cao gấp 10 – 100 lần so với một động vật khi cùng thực hiện một việc.

Vẫn còn một chặng đường dài phải vượt qua trước khi chúng tôi chế tạo được những robot có diện mạo, hành động và suy nghĩ giống người. Tuy nhiên, cái mà chúng tôi có là rất nhiều các công nghệ khả thi, giúp chúng tôi đưa một số khía cạnh của sinh vật học vào thế giới kỹ thuật“, nhà nghiên cứu Iida nhấn mạnh.

Nguồn : vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/256285/trinh-lang-robot-biet-de-con-va-tu-tien-hoa.html