Monthly Archives: Tháng Bảy 2016

Đại Hàn xây dựng xa lộ rẻ nhất thế giới như thế nào?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Đại Hàn xây dựng xa lộ rẻ nhất thế giới như thế nào?

Hệ thống giao thông công cộng của Hàn Quốc được đánh giá thuộc diện tốt nhất thế giới về “tính hiệu quả, giá thành, độ tin cậy và đổi mới”. Trong những kỳ công của hệ thống đó phải kể đến xa lộ Seoul-Busan, công trình xây dựng cầu đường lớn nhất trong lịch sử nước này.

 

 Xa lộ Seoul – Busan là một trong những công trình đã giúp Hàn Quốc bứt phá ngoạn mục thành một trong những cường quốc thế giới. Tuyến đường nối thành phố thủ đô tới hải cảng Busan ở phía nam được xây dựng dưới thời Tổng thống Park Chung Hee.
Hàn Quốc, xa lộ, kỳ công, Park Chung Hee
Một phần xa lộ Seoul-Busan nhìn từ trên cao.

Khi đó, người đứng đầu chính quyền Seoul đặt ra hai mục tiêu: giải quyết giao thông cho phát triển kinh tế và đem lại cho người dân Hàn Quốc một niềm tin mới về khả năng xây dựng và sáng tạo của họ.

Khi nêu ra đề án xây dựng xa lộ với 4 làn xe chạy, vươn qua những rặng núi và địa thế hiểm trở, Park Chung Hee đã đối mặt với rất nhiều khó khăn. Ở trong nước, Quốc hội phản đối thẳng thừng, và nhiều nhà lập pháp, kể cả các thành viên thuộc đảng cầm quyền, không tin dự án sẽ thành công. Họ cho rằng, chi phí xây dựng và bảo trì con đường sẽ đẩy Hàn Quốc tới bờ vực phá sản. Ở ngoài nước, Ngân hàng Thế giới (WB) cùng không ít thể chế tài chính khác cũng có nhận định tương tự.

Trước đó, vào năm 1964, Park Chung Hee đã tới thăm Tây Đức và ấn tượng rất lớn với hệ thống xa lộ Autobahn. Sau khi trở về từ hành trình này, ông đã coi việc xây dựng xa lộ là một vấn đề hàng đầu của đất nước.

Vấp phải sự phản đối nhưng Park Chung Hee vẫn đề cao quyết tâm. Ông tập hợp các báo cáo chuyên ngành và của cố vấn ở trong nước cũng như ngoài nước, thu thập tất cả những tài liệu về xây dựng xa lộ từ miền núi Andes ở Nam Mỹ tới Siberia của Liên Xô, rồi tự mình nghiền ngẫm. Sau đó, cùng với các kỹ sư xây dựng, ông đích thân đi trực thăng lên, xuống và lượn qua khắp những vùng núi non hiểm trở để khảo sát địa hình và ghi nhận thực tế.

Ngày 1/2/1968, Park Chung Hee ra lệnh khởi công dự án có độ dài 428km, băng qua hơn 200 cây cầu và 6 đường hầm chính. Đến hết tháng 6/1970, phần thi công cuối cùng ở đoạn Daejeon – Daegu hoàn tất và xa lộ lớn nhất trong lịch sử Hàn Quốc chính thức khai thông.

Các chuyên viên vận tải thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, với số tiền chỉ 330 USD xây dựng một km đường, đây là chi phí thấp nhất trong lịch sử xây dựng xa lộ loại này.

Và đúng như những gì Park Chung Hee kỳ vọng, trong 3 năm đầu, xa lộ Seoul – Busan đã được sử dụng hữu hiệu để phục vụ cho một khu vực tạo ra 70% tổng sản lượng quốc gia, và chiếm tới 80% lượng xe lưu thông trong nước. Con đường kết nối hiệu quả cả về địa hình lẫn thời gian giữa các nhà máy sản xuất và các khu vực tiêu thụ, góp phần giúp cho Hàn Quốc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mong đợi.

Một kỹ sư thuộc Bộ Xây dựng Hàn Quốc đã làm việc trực tiếp 18 tháng ở Công trường Xây dựng Xa lộ đã mô tả về Park Chung Hee như sau: “Sau một thời gian, tôi thấy ông giống một nhạc trưởng. Với chiếc trực thăng và cây gậy, ông lên xuống, lần này với một toán nhà địa chất để tìm hiểu có gì trục trặc mà vách núi đã sập trên những người xây dựng đường hầm, lần khác với mấy nhà thủy học của Liên Hợp Quốc để kiểm tra các họa đồ viên đã ghi sai mực nước ngầm ra sao. Nếu ngày thứ Ba không có được câu trả lời thì ông sẽ trở lại với vấn đề này ngày thứ Năm hoặc thứ Bảy”.

Ký giả Michael Keon cũng ghi lại một sự kiện cho thấy Park Chung Hee đã coi việc hoàn thành con đường như là một nhiệm vụ lịch sử, khi chính ông đích thân làm lễ tuyên thệ cho những sĩ quan trẻ được tuyển chọn trong Đoàn Kỹ sư Công binh làm đốc công và chuyên viên sửa chữa máy móc, với lời thề: “Nguyện hiến thân cho Tổ quốc phồn vinh, cho Nhân dân hạnh phúc. Chịu bất cứ hình phạt gì nếu không làm tròn nhiệm vụ”.

Dưới thời Park Chung Hee, tiết kiệm là quốc sách. Trong nhiều bài diễn văn, ông đã nhắc đi nhắc lại: “Mỗi xu ngoại tệ là một giọt máu”.

Thanh Hảo

Advertisements

THEO DÕI: DẤU HIỆU SINH TỒN.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Mục tiêu
1. Phân tích những yếu tố ảnh huởng đến dấu sinh tồn.
2. Trình bày mục đích, chỉ định của việc theo dõi dấu sinh tồn.
3. Mô tả dụng cụ đo lường dấu sinh tồn.
4. Lập quy trình chăm sóc khi có dấu sinh hiệu bất thường.
5. Rèn luyện ý thức thực hiện kỹ thuật đo dấu sinh tồn.
1. Đại cương
Dấu sinh tồn bao gồm: nhiệt độ, mạch, huyết áp, nhịp thở là những dấu hiệu chỉ rõ sự hoạt động của các cơ quan hô hấp, tuần hoàn và nội tiết, nó phản ánh chức năng sinh lý của cơ thể, thông thường được đo lường và theo dõi trên người bệnh, hoặc người thường để kiểm tra sức khoẻ định kỳ.
Theo dõi dấu sinh tồn giúp phát hiện những bất thường của bệnh tim mạch, hô hấp, thần kinh, và hệ thống nội tiết trong cơ thể. Ngoài ra những thay đổi về tình trạng sinh lý của cơ thể, những đáp ứng về thể chất, môi trường, tâm lý đều gây ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Những thay đổi này có thể xảy ra rất đột ngột hay kéo dài một khoảng thời gian. Do đó bất kỳ sự thay đổi bất thường nào của dấu sinh tồn đều cần được ghi nhận và báo với thầy thuốc để có những can thiệt kịp thời.
Dấu sinh tồn thứ năm là đau. Đôi khi người bệnh không có kinh nghiệm để diễn tả mức độ đau, nhưng nó là dấu hiệu mà họ đến khám bệnh.
2. Mục đích
− Theo dõi chức năng sinh lý (dấu sinh tồn) có nhiều mục đích khác nhau:
− Kiểm tra sức khoẻ định kỳ.
− Giúp chẩn đoán bệnh.
− Theo dõi tình trạng bệnh, diễn tiến bệnh.
− Theo dõi kết quả điều trị chăm sóc.
− Phát hiện biến chứng của bệnh.
− Kết luận sự sống còn của người bệnh.
3. Chỉ định
Kỹ thuật đo dấu sinh hiệu là nhiệm vụ thông thường của người điều dưỡng thực hiện khi:
− Nhận bệnh.
− Kiểm tra sức khỏe.
− Người bệnh đang nằm viện.
− Người bệnh trước và sau phẫu thuật.
− Trước và sau dùng thuốc ảnh hưởng hô hấp tim mạch, nhiệt độ …
− Tình trạng người bệnh có những thay đổi về thể chất (hôn mê, lú lẫn, đau).
− Bàn giao ca trực đối với người bệnh nặng.
− Người bệnh nhập viện, xuất viện, chuyển viện.
Đối với người bệnh đang nằm viện, Bộ Y tế quy định điều dưỡng ghi nhận kết quả vào phiếu theo dõi hai lần trong ngày vào buổi sáng và chiều, dù người bệnh có dấu sinh hiệu ổn định. Trong trường hợp tình trạng người bệnh đang hồi sức hay dấu sinh hiệu không ổn định thì cần theo dõi nhiều lần hơn.
4. Hướng dẫn thực hiện kỹ năng
Điều dưỡng có trách nhiệm phải theo dõi dấu sinh hiệu: biết phân tích sự thay đổi để có những quyết định can thiệp hợp lý.
Lựa chọn những dụng cụ để đo đếm phù hợp với tình trạng của người bệnh.
Điều dưỡng phải biết chỉ số dấu sinh hiệu bình thường, yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo đếm.
Điều dưỡng phải hiểu biết về tiền sử, bệnh sử, hướng điều trị, chỉ định dùng thuốc nhất là những can thiệp nào làm ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Điều dưỡng phải kiểm soát được các yếu tố môi trường làm ảnh hưởng đến dấu sinh hiệu.
Tùy theo tình trạng bệnh, điều dưỡng hội ý với bác sĩ để quyết định thời gian số lần theo dõi dấu sinh hiệu. Nếu kết quả dấu sinh hiệu thay đổi bắt đầu xấu dần, điều dưỡng cần theo dõi nhiều lần hơn dù không có ý kiến của thầy thuốc.
Điều dưỡng cần phối hợp kết quả đo lường dấu sinh hiệu và những dấu hiệu khác để xác định chẩn đoán điều dưỡng.
Điều dưỡng có thể hội ý với điều dưỡng khác trong tua trực khi ghi nhận kết quả dấu sinh hiệu bất thường.
Đối với người bệnh ngoại trú, dấu sinh hiệu được đo trước khi thực hiện việc khám bệnh.
A. THEO DÕI THÂN NHIỆT
Mục tiêu cụ thể
1. Trình bày những yếu tố ảnh hưởng đến thân nhiệt.
2. Phân biệt được các loại nhiệt kế.
3. Phân loại các mức độ sốt.
4. Nêu các yêu cầu chăm sóc người bệnh có thân nhiệt bất thường.
1. đại cương
Thân nhiệt là nhiệt độ cơ thể, được ký hiệu T0
Thân nhiệt được cân bằng giữa hai quá trình của tạo nhiệt và thải nhiệt, chịu ảnh hưởng một phần bởi môi trường bên ngoài.
Tạo nhiệt:
− Sự co mạch.
− Sự vận động, co cơ, rung giật cơ.
− Chuyển hoá các chất.
− Hoạt động của hệ nội tiết.
Thải nhiệt:
− Sự bài tiết qua hơi thở, mồ hôi, giảm khối lượng tuần hoàn.
− Sự dãn mạch ngoại biên.
− Do ức chế thần kinh.
Tuy nhiên nhiệt độ cơ thể còn chịu sự kiểm soát của trung khu điều hòa thân nhiệt ở vùng dưới đồi (Hypothalamus) và được duy trì trong giới hạn hẹp.
Các mô và tế bào trong cơ thể có khả năng chịu đựng nhiệt độ tốt nhất trong khoảng từ 360C – 380C, khoảng cách này có thể khác nhau tùy thuộc theo tuổi, giới tính, hoạt động thể chất và tình trạng sức khỏe của mỗi người.
Nhiệt độ trung bình của cơ thể: từ 36,50C – 370C
Sốt xảy ra khi cơ chế thải nhiệt mất khả năng quân bình nhiệt độ.
Khi thân nhiệt đo được cao hơn 37,50C thì gọi là sốt và khi thân nhiệt thấp hơn 360 thì gọi là hạ thân nhiệt.
Dụng cụ dùng để đo thân nhiệt gọi là nhiệt kế (Thermometer).
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thân nhiệt
Tuổi: trẻ em thân nhiệt thường cao hơn người lớn vì trung khu điều hòa thân nhiệt của trẻ chưa hoàn chỉnh nên dễ sốt cao do bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể và đôi khi kèm co giật. Người già vận động kém, nhu cầu chuyển hoá và hấp thu thấp nên thân nhiệt thường thấp so với người trẻ.
Khi hoạt động nhiệt độ tăng.
Nội tiết: phụ nữ nhiệt độ thương cao hơn nam giới đặc biệt trong thời kỳ rụng trứng.
Stress thường làm thay đổi nhiệt độ: tăng hoặc hạ nhiệt độ.
Nhiệt độ môi trường tác động đến thân nhiệt nhưng thay đổi không nhiều khoảng 0,50C. Đặc biệt ở người già hay trẻ em thường nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ môi trường hơn so với người trẻ.
Một số thuốc ảnh hưởng khả năng bài tiết mồ hôi, gây dãn mạch.
Thời gian đo thân nhiệt: nhiệt độ cơ thể thay đổi từ 0,50C đến 10C trong ngày. Nhiệt độ thấp nhất vào sáng sớm và cao nhất sau 6 giờ chiều.
Vị trí đo thân nhiệt: kết quả nhiệt độ có thể khác nhau tùy theo vị trí đo thân nhiệt.
3. Phân loại nhiệt kế
3.1. Phân loại theo chất liệu
STT Phân loại chất liệu nhiệt kế Ích lợi Bất lợi
1 Nhiệt kế thủy ngân Tiện dùng
Rẻ tiền
Thời gian: tuỳ theo vị trí đặt, trung bình 3 phút Dễ vỡ gây nguy hiểm do chứa thủy ngân ( Hg).
Dễ nguy cơ lây nhiễm nếu đặt ở miệng hoặc ở hậu môn
2 Nhiệt kế điện tử Cho kết quả trong thời gian ngắn 4 giây Dễ nguy cơ lây nhiễm nếu đặt ở miệng hoặc ở hậu môn
3 Nhiệt kế bằng hóa chất Dùng một lần rồi bỏ. Thường
dùng cho người bệnh cần cách ly
Thời gian trung bình 3 phút Khó đọc kết quả do phải quan sát màu sắc thay đổi
3.2. Phân loại theo vị trí
[IMG]

Hình 17.1. Các loại nhiệt kế đặt theo vị trí Read the rest of this entry

Chế tạo thành công robot “mẹ” tự “đẻ con” và tiến hóa.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Thông tin nghe có vẻ như trong chuyện khoa học viễn tưởng, nhưng các nhà nghiên cứu thực tế vừa tạo ra những robot có khả năng đẻ con và tiến hóa mà không cần sự can thiệp của con người.

 Các chuyên gia robot học đã chế tạo một cỗ máy “mẹ”, có thể tự sản xuất “các con” của chính nó và kiểm nghiệm xem những robot con nào thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ nhất định. Robot “mẹ” sau đó sử dụng các kết quả này để khai báo thiết kế về “đứa con” tiếp theo, sao cho những đặc điểm ưu việt hơn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp, tương tự như cách thức của quá trình chọn lọc tự nhiên ở động vật.

Robot biết đẻ con là sản phẩm sáng tạo của một nhóm kỹ sư thuộc Đại học Cambridge (Anh), do tiến sĩ Fumiya Iida đứng đầu. Tiến sĩ Iida và các cộng sự đã thiết kế robot “mẹ” và lập trình cho nó có khả năng chế tạo một robot đơn giản, có thể cử động được.

Từ thời điểm này, không cần thêm bất cứ sự can thiệp nào của con người hoặc quá trình mô phỏng của máy tính, robot “mẹ” tự sản sinh ra con cấu tạo gồm 1 – 5 khối chất dẻo cùng một động cơ nhỏ bên trong.

Trong mỗi thử nghiệm riêng rẽ khác nhau, robot mẹ thiết kế, chế tạo và kiểm nghiệm một thế hệ gồm 10 đứa con, sử dụng thông tin thu thập được từ thế hệ này để khai báo thiết kế cho thế hệ tiếp theo. Kết quả cuối cùng ghi nhận, các đặc điểm ưu việt hơn đã được truyền qua nhiều thế hệ robot và các robot tốt nhất trong thế hệ cuối cùng thực hiện một công việc định trước nhanh gấp đôi các robot tốt nhất trong thế hệ đầu tiên.

“Chọn lọc tự nhiên về cơ bản là sinh sản, đánh giá, tái sinh sản, đánh giá và lặp đi lặp lại tiến trình đó. Nhìn chung, đây là điều mà robot mẹ đang làm. Chúng ta có thể thực sự quan sát việc cải thiện và đa dạng hóa của loài”, tiến sĩ Iida giải thích.

Theo tiến sĩ Iida, mỗi robot con ra đời từ một “hệ gen” độc nhất vô nhị, là sự kết hợp giữa 1 – 5 “gen” (thực chất là các khối chất dẻo) khác nhau, chứa đựng mọi thông tin về hình dáng, cấu trúc và các lệnh vận động.

Cũng giống như trong tự nhiên, quá trình tiến hóa ở robot diễn ra thông qua“quá trình đột biến”, trong đó các thành phần của 1 gen được biến đổi hoặc các gen đơn lẻ được thêm vào hoặc bớt đi và “lai tạo” (một gen mới được hình thành thông qua hòa trộn các gen từ 2 cá thể).

Để robot mẹ xác định đứa con nào là ưu việt nhất, mỗi robot con được kiểm tra về khả năng di chuyển xa tới đâu từ vị trí xuất phát, trong một khoảng thời gian nhất định. Các cá thể thành công nhất trong mỗi thế hệ vẫn giữ nguyên không đổi trong thế hệ tiếp theo để bảo tồn các khả năng của chúng, trong khi sự đột biến và lai tạo được thực hiện ở những cá thể con kém thành công hơn.

Nhóm nghiên cứu khám phá ra rằng, điều đó giúp tạo ra sự biến hóa thiết kế và cải thiện khả năng của các thế hệ robot theo thời gian.

Nghiên cứu của họ tập trung xem xét cách các robot có thể được cải thiện như thế nào, chẳng hạn như trí tuệ hay sự vận động, thông qua học hỏi từ tự nhiên. Một robot hiện đòi hỏi mức năng lượng cao gấp 10 – 100 lần so với một động vật khi cùng thực hiện một việc.

Vẫn còn một chặng đường dài phải vượt qua trước khi chúng tôi chế tạo được những robot có diện mạo, hành động và suy nghĩ giống người. Tuy nhiên, cái mà chúng tôi có là rất nhiều các công nghệ khả thi, giúp chúng tôi đưa một số khía cạnh của sinh vật học vào thế giới kỹ thuật“, nhà nghiên cứu Iida nhấn mạnh.

Nguồn : vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/256285/trinh-lang-robot-biet-de-con-va-tu-tien-hoa.html

 

Tự xoa bóp, bấm huyệt gan bàn chân phòng chữa bệnh thông thường.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân là một trong nhiều phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, là xu hướng được ưa chuông của thế giới hiện nay. Ta có thể tự chẩn đoán và chữa trị được một số bệnh thông thường. Các bạn tham khảo cách xoa bóp dưới đây để thấy được các công dụng của nó.

Xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân là một trong nhiều phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, là xu hướng được ưa chuông của thế giới hiện nay. Ta có thể tự chẩn đoán và chữa trị được một số bệnh thông thường. Có thể dễ dàng thực hiện bất kỳ chỗ nào, lúc nào: lúc nghỉ giải lao, lúc ngồi tàu xe, lúc xem ti vi,… chỉ cần 5-10 phút ai cũng làm được.

Tại sao phải xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân?

Xoa bóp, bấm huyệt gan bàn chân phòng chữa bệnh Read the rest of this entry

ĐÔNG Y DƯỢC BÀO CHẾ ĐẠI CƯƠNG.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Để một vị thuốc dễ dàng được người tiêu dùng chấp nhận, phải chú ý rất nhiều từ khâu sơ chế đến bào chế. Tây y có những quy trình rất rõ về việc bào chế từng vị thuốc. Đông y từ trước đến nay, đa số bào chế theo truyền khẩu, theo kinh nghiệm, ít có đơn vị, cơ quan chính thức làm hẳn công việc này. Ngoài ra việc bào chế thuốc Đông y còn yêu cầu chế biến theo diễn biến bệnh nên có nhiều vị thuốc không thể làm sẵn được.

Quy chế và phương pháp bào chế theo người xưa được mô tả rõ nhất trong quyển ‘Bào Chích Luận’ của Lôi Hiệu, viết khoảng năm 420 – 479. Sau này dựa vào tên tác giả đổi thành ‘Lôi Công Bào Chích’. Quyển sách này hiện nay vẫn còn được coi là quy phạm cho những người bào chế thuốc.

Một vị thuốc khi đến tay người tiêu dùng thường trải qua 3 giai đoạn:

1- Cách trồng.

2- Thu hái, Sơ chế.

3- Bào chế.

Mỗi khâu đều có kỹ thuật riêng, vì vậy, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu các giai đoạn này để việc chế biến thuốc đạt hiệu quả hơn.

1- CÁCH TRỒNG

Mỗi cây thuốc, vị thuốc có cách trồng hoặc nuôi dưỡng riêng.

– Thời điểm trồng có thể sẽ mang thêm hiệu quả. Thí dụ có những cây trồng vào đầu màu xuân, có cây lai trồng vào dịp hè thu… Nếu trồng sai thời vụ, kết quả thu hoạch sẽ kém hơn.

– Cách chăm sóc cho cây sinh trưởng cũng sẽ giúp thu hoạch đạt năng suất hơn. Thí dụ, cũng cùng một loại cây, nếu biết phân bón đúng thời điểm, lượng thu hoạch cho 4-5 tấn/hecta so với 1 tấn/ hecta nếu không chăm sóc, phân bót.

2- THU HÁI

. Xác định đúng thời kỳ thu hái.

+ Đối với cây lấy củ: thu hái lúc cây bắt đầu vàng úa, lá gốc đã già, lúc này hoạt chất tập trung nhiều ở củ.

+ Đối với cây lấy lá: thường thu hái lúc cây ra nụ.

+ Đối với cây lấy tinh dầu: thường thu hoạch vào thời kỳ hoa nở rộ, là lúc hàm lượng tinh dầu thường cao nhất.

. Kỹ thuật thu hái:

+ Nên chọn ngày nắng ráo để dễ dàng trong việc phơi, sấy chế biến.

+ Thu hoạch củ khi đào, tránh làm sây sát hoặc đứt rễ.

+ Thu hoạch lá: cắt lá theo đúng yêu cầu (loại lá già hoặc bánh tẻ…), trải mỏng, không nên xếp đống hoặc vất bừa bài vì lá sẽ bị hấp nóng dễ bị thối ủng.

+ Thu hoạch cây để lấy tinh dầu: Cắt lá sau khi tan hết sương cho đến khoảng 15-16 giờ sẽ đỡ hao tinh dầu.

+ Thu hái vỏ cây thì phải dùng dây thắt ngang cây hoặc cành làm chuẩn rồi dùng dao rạch thành từng miếng cho đều, dễ phơi sấy và uốn thành từng thanh. Nếu bóc tùy tiện sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây và giảm giá trị của vị thuốc.

3- CHẾ BIẾN

Có 2 giai đoạn: Sơ Chế và Bào Chế.

A- SƠ CHẾ

Để bảo quản dược liệu sau khi thu hoạch, cần sơ chế ngay. Mỗi loại dược liệu có cách sơ chế riêng (xem chi tiết trong từng vị thuốc).

+ Các loại lá:

. Nên phơi trong râm cho héo dần, không nên phơi nắng to sẽ làm cho thuốc khô giòn, vụn nát.

. Trước khi phơi hoặc sấy, thường người ta dùng phép ‘diệt men phân hủy’ để giữ nguyên hoạt chất có trong lá. Thí dụ: vị thuốc Cam thảo dây, nếu thu hái xong mà phơi ngay thì lá biến thành mầu nâu xám, vị thuốc không ngọt, hoạt chất giảm đi, nhưng nếu chế biến bằng cách sao lá tươi trên chảo nóng bỏng, sau đó giảm dần lửa cho đến khi khô hẳn thì lá Cam thảo dây vẫn giữ nguyên mầu xanh lục và vị ngọt đậm vì chất Glyxyrizin không bị phá hủy đi.

+ Các loại thân cây có nhựa khô như Thạch hộc, nên luộc sơ qua rồi phơi nắng to cho khô

+ Các loại củ, phải sấy từ từ, lúc đầu nhiệt độ khoảng 40 – 500C, sau tăng dần lên 70 – 800C, để tránh tình trạng bên ngoài vỏ đã khô mà trong ruột còn ướt.

Các giai đoạn chế biến dược liệu:

THÁI, BÀO

Dùng dao cắt dược liệu thành những miếng mỏng.

Đa số các nhà thuốc đều mua loại dao chế sẵn, tùy theo yêu cầu dược liệu, gọi là Dao Cầu, Dao Bào hoặc Dao Thái.

+ Dao Cầu: Bản dao to hơn, thường dùng thái các dược liệu to và cứng.

+ Dao Bào: có hình dáng giống chiếc bào gỗ của thợ mộc, thường dùng để cắt những dược liệu đã được ủ mềm cho đều và không bị nát vụn như Đương quy, Thương truật, Xuyên khung…

+ Dao Thái: Loại dao sắc để cắt dược liệu nhỏ, mềm như lá: Bạc hà, Kinh giới…

TÁN

Làm cho dược liệu trở thành dạng bột nhuyễn, mịn.

Có thể dùng hai cách sau:

+ Tán bằng Chầy và Cối:

– Cối có nhiều loại: bằng gỗ, bằng đá, bằng đồng, bằng sắt… Hiện nay có nhiều nơi chế bằng nhựa cứng. Nên lựa loại có lòng sâu để chứa được nhiều thuốc và đỡ bắn thuốc ra ngoài.

– Chầy có thể bằng gỗ hoặc bằng nhựa. Nhiều nơi bọc đầu chầy bằng một miếng đồng để tăng sức giã nát thuốc. Ở thân của chầy, nên làm một miếng che bằng da để che thuốc khỏi bắn ra ngoài mỗi khi chầy nện xuống cối thuốc.

Cho dược liệu vừa đủ vào cối, nhiều quá thì thuốc khó giã mà dễ bị bắn ra ngoài; Nếu thuốc ít quá, chầy có thể đập mạnh vào lòng cối, dễ gây vỡ cối…

Nếu dược liệu thuộc loại mềm, nếu giã sẽ làm cho thuốc dính lại thành tảng. Trường hợp này nên dùng cách nghiền: Không nhấc cao chầy ra khỏi cối mà đưa đầu chầy xoay thành vòng tròn, ép mạnh dược liệu vào thành cối cho nát.

+ Tán bằng Thuyền Tán: Nếu dược liệu cứng, khó cắt, cần nghiền nát với số lượng lớn thì nên dùng Thuyền tán. Thuyền tán đa số làm bằng gang, giống hình một chiếc thuyền. Khi cần tán, cho dược liệu vào lòng thuyền (sau khi đã cắt nhỏ hoặc sao khô), dùng một bánh xe cũng bằng gang có cạnh sắc lăn qua, lăn lại cho đến khi dược liệu bị phân chia nhỏ ra.

Hiện nay, có thể dùng máy tán vừa nhanh vừa đỡ mất sức mà dược liệu đạt độ mịn hơn.

RÂY

Sau khi đã tán dược liệu thành bột, tùy yêu cầu chế biến mà dùng các loại rây khác nhau để tạo nên bột có độ mịn khác nhau.

+ Nếu làm thành bột uống thì càng mịn càng tốt cho dễ uống.

+ Nếu dùng để chế thành viên hoặc hoàn tễ thì không cần mịn lắm cũng được..

SAO

– Sao là phương pháp dùng hơi nóng của lửa làm cho thuốc khô, sém vàng hoặc cháy đen. Mục đích để thay đổi tính năng của thuốc theo ý muốn của người dùng.

– Dụng cụ để sao: thường là chảo bằng gang hoặc nồi bằng đất và một đôi đũa to để đảo thuốc.

– Có nhiều cách sao thường dùng:

+ Sao vàng: Sao cho đến khi vị thuốc bên ngoài có mầu vàng nhưng trong ruột vẫn còn mầu như cũ. Khi sao, để lửa nhỏ, thời gian sao lâu. Mục đích để cho thuốc bớt tính hàn.

+ Sao vàng hạ thổ: Quét sạch đất, sau khi sao thuốc xong, đổ trải thuốc ra nền đất sạch, đậy lại, để khoảng 15 phút cho thuốc nguội. Mục đích để khử hỏa độc do sao nóng của vị thuốc, làm cho thuốc tăng thêm phần âm của đất để điều hòa âm dương (khí của đất là âm, khí của hỏa nhiệt khi sao thuốc là dương).

+ Sao vàng xém cạnh: Sao làm cách nào để mặt ngoài thuốc hơi vàng xém nhưng bên trong ruột không thay đổi mầu. Cách sao này thường dùng đối với vị thuốc quá chua, chát như Hạt cau, Trần bì, Chỉ thực…

+ Sao đen: Dùng lửa to, dợi khi chảo thật nóng thì cho thuốc vào, đảo đều cho đến khi thấy bên ngoài cháy đen, bẻ ra thấy bên trong mầu vàng là được. Thường dùng để sao Toan táo nhân, Chi tử, Kinh giới… Nhằm mục đích tăng tác dụng cầm máu hoặc tiêu thực của vị thuốc.

+ Sao tồn tính: Sao cho gần cháy hết nhưng chưa thành than. Dùng lửa to, để cho chảo thật nóng, cho thuốc vào đảo đều cho đến khi thấy khói bốc lên nhiều, bắc chảo xuống, đậy nắp lại cho hơi nóng nung nấu thuốc rồi để nguội dùng. Thường dùng để tăng tác dụng cầm máu của thuốc như Trắc bá diệp, Cỏ mực…

+ Sao với cát: Chọn loại cát nhỏ, mịn, rang cho nóng rồi mới cho thuốc vào, trộn cho thật đều. Mục đích sao với cát là để lấy sức nóng lâu của cát làm cho thuốc càng, phồng đều nhưng không cháy. Thường dùng sao các vị Xuyên sơn giáp, Phá cố chỉ…

+ Sao với bột Hoạt thạch, Cáp phấn: để làm cho các vị thuốc có độ dẻo, có chất keo, chất nhựa, dầu… không dính vào nhau như A giao, Một dược, Nhũ hương…

+ Sao với cám: để rút bớt tinh dầu của vị thuốc ra như Chỉ thực, Thương truật, Trần bì…

TẨM

Mục đích là làm cho một chất lỏng khác thấm vào được thuốc.

Các chất lỏng dùng để tẩm thường là Rượu, Giấm, nước Muối, nước cốt Gừng, Đồng tiện (nước tiểu trẻ nhỏ)…. Thời gian ngâm từ 2 – 4 giờ hoặc có khi phải ngâm qua đêm, ngâm mấy ngày… tùy yêu cầu của từng vị thuốc. Sau đó lại sao cho khô.

Trung bình, cứ 1kg thuốc ngâm với 50 – 200ml.

+ Tẩm Rượu:

– Dùng rượu 30 – 400, trộn với thuốc, ngâm khoảng 2-3 giờ rồi sao vàng.

– Mục đích để giảm bớt tính hàn của thuốc, tăng thêm độ ấm.

– Rượu có tác dụng bốc và dẫn nhanh, vì vậy giúp cho thuốc đi nhanh ra các bộ phận cần dẫn thuốc đến.

+ Tẩm Nước Muối:

– Dùng nước muối 20%, ngâm chung với thuốc 2 – 3 giờ rồi sao vàng. Thường dùng muối với tỉ lệ 5% so với thuốc, để làm cho thuốc thêm mặn.

– Vị mặn là vị của Thận, vì thế muốn cho thuốc dẫn vào Thận, thì tẩm với nước muối.

+ Tẩm Giấm:

– Dùng 5% lượng Giấm ăn so với thuốc, ngâm ngập thuốc, để khoảng 1 – 2 giờ, đem sao.

– Vị chua đi vào kinh Can, vì vậy tẩm Giấm để dẫn thuốc đi vào Can.

+ Tẩm Đồng Tiện

– Dùng nước tiểu của trẻ nhỏ khỏe mạnh (lượng dùng là 5% so với thuốc), ngâm với thuốc từ 12 – 48 giờ rồi sao vàng.

– Tẩm nước tiểu để dẫn thuốc vào phần huyết và giáng hỏa.

+ Tẩm Nước Cốt Gừng

– Dùng Gừng tươi (Sinh khương) rửa sạch, giã nát, cho váo ít nước, vắt lấy nước cốt, ngâm với thuốc khoảng 1 giờ rồi sao vàng. Lượng nước cốt Gừng dùng theo tỉ lệ 5 – 15% so với thuốc, tức là 50g – 150g Gừng tươi cho 1kg thuốc.

– Gừng có tính ôn ấm, kích thích tiêu hóa, vì vậy, tẩm vào thuốc sẽ giúp cho thuốc đó bớt hàn, tăng tác dụng kiện Tỳ, hòa Vị, kích thích tiêu hóa.

+ Tẩm Mật

Theo các tài liệu cổ thường là tẩm Mật Ong, nhưng hiện nay, đa số là tẩm Mật Mía. Thường pha một phần mật với một phần nước cho loãng rồi ngâm với thuốc khoảng 4 – 6 giờ. Mục đích tẩm Mật để giảm bớt vị đắng, chát của thuốc.

Vị ngọt đi vào Tỳ, vì vậy muốn tăng tác dụng kiện Tỳ của vị thuốc thì tẩm với mật.

+ Tẩm Nước Đậu Đen

Dùng 100g Đậu đen cho một lít nước, đun sôi một giờ, gạn lấy nước, ngâm với thuốc. Thường theo tỉ lệ 10 – 20% so với thuốc. Tẩm nước Đậu đen thường tăng ác dụng bổ Can Thận

+ Tẩm Nước Cam Thảo

Dùng 100g Cam thảo cho một lít nước, nấu sôi một giờ, gạn lấy nước, ngâm với thuốc, theo tỉ lệ 10 – 20 % so với thuốc.

Mục đích để giảm bớt độc tính của thuốc, làm cho thuốc êm dịu, đỡ chát.

+ Tẩm Nước Gạo

Dùng nước gạo đặc mới vo, ngâm với thuốc theo tỉ lệ 5 – 10%, để qua đêm, rồi sấy khô.

Mục đích để làm cho thuốc bớt tính ráo, nóng hoặc giảm bớt độc.

+ Tẩm Hoàng Thổ

Dùng 100g đất sét vàng (Hoàng thổ) cho vào 1 lít nước, đun sôi, khuấy đều. Gạn bỏ nước phía trên, chỉ lấy nước ở giữa, bỏ căn, tẩm với thuốc theo tỉ lệ 40 – 50%, để 2 –3 giờ rồi đem sao vàng.

Dùng Hoàng thổ sao để hút bớt tinh dầu có trong một số vị thuốc như Bạch truật, làm cho thuốc bớt tính ráo, nóng.

Mầu vàng là mầu của Tỳ, vì vậy, sao với Hoàng thổ để dẫn thuốc vào Tỳ, tăng tác dụng kiện Tỳ cho vị thuốc.

+ Tẩm Sữa

Ngày xưa thường dùng sữa người (Nhân nhũ) và phải là loại sữa của người mới sinh làn đầu (gọi là sữa con so), hiện nay có thể dùng sữa bò (nguyên chất chứ không phải loại sữa đặc có đường đã pha chế), dùng một nửa sữa, nửa nước để tẩm vào dược liệu, để khoảng 1-2 giờ rồi sao vàng. Mục đích tẩm Sữa để làm bớt tính khô ráo của vị thuốc. Ngày xưa dùng sữa người theo ý sữa là tinh huyết, tẩm vào thuốc để tăng tác dụng bổ huyết

Dùng lượng nước ít phun hoặc rắc cho thấm đều dược liệu rồi dùng vải ướt hoặc bao tải đậy kín vài giờ hoặc vài ngày cho dược liệu mềm ra cho dễ thái và chế biến, hoặc giúp cho dược liệu lên men… Phương pháp này dùng cho các loại không thể ngâm lâu vì sợ mất hoạt chất như Ô dược, Tỳ giải, Thổ phục linh…

Có một số dược liệu trước khi phơi cần phải ủ cho dược liệu lên men, có mầu đẹp như Ngưu tất, Đương quy, Huyền sâm…

THỦY PHI

Là phương pháp tán, nghiền thuốc ở trong dạng nước với mục đích lọc lấy bột thật mịn, loại bỏ được một số tạp chất.

Cho bột thuốc vào vào cối lớn rồi cho nước vào ngập thuốc khoảng 3 – 5cm, khuấy đều, vớt bỏ những tạp chất nổi trên mặt nước đi, rồi vừa khuấy nhẹ vừa gạn thuốc sang bình đựng khác, còn cặn bỏ đi. Để cho nước lắng xuống, gạn bỏ nước, lấy chất lắng đem phơi hoặc sấy khô. Thường dùng để lọc các chất Long cốt, Ngũ linh chi, Chu sa, Thần sa…

THỦY BÀO

Nấu nước sôi kỹ, để cho thuốc hơi hạ nhiệt xuống, còn khoảng 60 – 700, cho thuốc vào quấy nhẹ liên tục cho đến khi nước nguội. Làm như vậy 2 – 3 lần.

Mục đích của thủy bào là làm giảm bớt tính mạnh của vị thuốc hoặc làm cho vị thuốc mềm, dễ cắt hoặc dễ bóc vỏ.

Thí dụ: Thủy bào Bán hạ cho bớt chất độc; Thủy bào Hạnh nhân, Đào nhân để dễ bóc vỏ…

CHÍCH

Dùng mật tẩm dược liệu xong đem nướng (chích) cho đến khi thấy khô, thơm là được. Mục đích lấy vị ngọt của mật làm tăng tác dụng kiện Tỳ của vị thuốc. Thí dụ: Chích Hoàng kỳ, Chích Cam thảo…

ĐỐT

Thường dùng cồn đốt rồi đem vị thuốc hơ lên lửa cho cháy lông, hơi rượu bốc lên thấm vào thuốc làm cho thuốc có mùi thơm hơn, bớt tanh và bảo quản được lâu. Nhung Hươu, Nai… thường dùng cách đốt này.

LÙI

Khi tro bếp đang nóng, đặt vị thuốc vào trong đó để láy sức nóng của tro làm cho thuốc chín. Khi áp dụng phương pháp này, thường dùng giấy bản ướt hoặc lấy Cám ướt bọc bên ngoài vị thuốc, đến khi giấy hoặc cám khô hẳn là được. Mục đích là tăng thêm tính ấm của vị thuốc đó. Thí dụ như Gừng, Cam thảo, Mộc hương…

NUNG

Dùng nhiệt độ cao để đốt trực tiếp vị thuốc đó cho chảy hoặc dễ tán thành bột. Thí dụ như Phèn chua (nung cho chảy ra, gọi là Phèn phi), Mẫu lệ, Thạch cao thường là nung cho đỏ để dễ tán thành bột.

SẮC

Cho thuốc vào nồi đất (siêu) hoặc dụng cụ để nấu… cho nước theo yêu cầu (thường là 4 chén nước), đun sôi nhẹ một thời gian cho thuốc thấm ra hết, chiết lấy nước để dùng như thang thuốc sắc vẫn thường dùng.

NGÂM

Dùng một chất khác (nước, nước muối, Đồng tiện, rượu…) ngâm với vị thuốc muốn dùng để làm cho thuốc mềm hơn, giảm trừ bớt độc tính của thuốc hoặc tăng tác dụng khác cho vị thuốc đó.

Thí dụ:

+ Bán hạ ngâm nước Gừng để giảm bớt độc tính của thuốc.

+ Đỗ trọng ngâm nước muối để tăng tác dụng bổ Thận.

+ Hậu phác ngâm nước Gừng để tăngtác dụng tiêu thực…

HÃM

Dùng nước đang sôi rót vào dược liệu rồi đậy kín lại cho thuốc thấm ra trong thời gian theo yêu cầu từng vị thuốc. Phương pháp này dùng cho các vị thuốc mềm như hoa, lá non, rễ nhỏ… Thường dùng dưới dạng chế biến thành chè để uống.

ĐỒ

Dùng hơi nóng của nước làm cho vị thuốc mềm ra, dễ thái. Thường dùng đối với các vị thuốc mà nếu ngâm sẽ làm mất hoạt chất của thuốc đi như Hoài sơn, Phục linh…

CHƯNG

Chế biến thuốc bằng cách nấu cách thủy, lấy hơi của dung dịch chế biến làm cho chất thuốc thay đổi. Thí dụ: Dùng rượu và Sa nhân chưng Sinh địa…

Cách thực hiện: Cho thuốc vào thùng, đặt vào một thùng khác to hơn (đã chứa ½ thùng nước), đậy nắp lại. Nấu sôi trong 24 giờ, khi nước cạn lại đổ thêm nước vào nấu. Ngày hôm sau, lấy vị thuốc ra, phơi hoặc sấy khô rồi lại tiếp tục chưng và phơi như trên đủ 9 lần, gọi là ‘Cửu chưng cửu sái’. Lúc đó, vị Sinh địa sẽ biến thành Thục địa.

XÔNG

Mục đích xông làm cho thuốc khô, chống mọt, để được lâu.

Có thể xông bằng Diêm sinh (Lưu huỳnh). Thí dụ: Bạch chỉ, Hoài sơn xông bằng Lưu huỳnh sẽ có mầu trắng tinh; Ngưu tất xông Lưu huỳnh và ủ kỹ sẽ có mầu hồng trong…

Những điểm cần lưu ý khi xông bằng Diêm sinh:

– Khi sấy bằng Diêm sinh cần tính toán lượng Diêm sinh cho phù hợp với lượng thuốc cần xông.

Có thể theo cách sau:

+ Những lần sấy đầu: cứ 100kg thuốc, dùng 0,800g – 1,2kg Diêm sinh, đốt làm hai lần.

+ Những lần xông định kỳ để Bảo quản: cứ 100kg thuốc dùng 0,100 – 0,150kg Diêm sinh.

– Khi sấy bằng Diêm sinh, nên xếp thuốc thành từng lớp ngang, dọc khác nhau để cho hơi của Diêm sinh tỏa thấm đều tất cả thuốc.

– Hơi Diêm sinh bốc lên có độc, vì vậy chỗ sấy phải làm nơi thoáng. Lò sấy phải kín.

– Sau khi xông xong, phải mở cửa buồng sấy cho tỏa bớt hơi Diêm sinh đi rồi mới lấy dược liệu ra để tránh bị ngộ độc, nghẹt thở do hơi độc của Diêm sinh.

– Vị Cam thảo bắc không bao giờ được sấy bằng Diêm sinh.

Một vài lưu ý khi chế biến thuốc:

+ Để ý phòng cháy nhất là những khâu sao thuốc. Nếu sơ ý sẽ dễ cháy thuốc lẫn vật dụng chung quanh.

+ Nếu xông thuốc, cần đeo khẩu trang tránh hơi độc của Diêm sinh hoặc Luu huỳnh bốc lên.

+ Một vài dược liệu có chất ăn da, khi rửa, nên để ở dưới vòi nước chảy. Thí dụ:

– Bạch chỉ nếu rửa vào chậu nước trong nhiều giờ chất Acid Angelic sẽ làm phồng và loét da tay.

– Bán hạ, Thiên niên kiện nếu rửa lâu sẽ gây dị ứng lở ngứa da.

Theo: Kiến Thức Đông Y