Ông Nguyễn Hiền. Nguyễn (Thượng) Hiền. Trạng Nguyên trẻ nhất trong Lịch Sử Việt Nam.

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Nguyễn Hiền, Trạng Nguyên Trẻ Nhất Lịch Sử Việt Nam

 Ngô Thi


Nguyễn Hiền vốn quê làng Hà Dương (tỉnh Nam Định).

161cBài vị trong đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền

Cậu bé Hiền mồ côi cha, phải cùng mẹ sống trong một túp lều thuộc khuôn viên chùa làng. Nương nhờ cửa Phật, nhà sư dạy cho cậu bé chữ thánh hiền, mỗi buổi phải học xong mười tờ giấy.

Khi đọc sách, chỉ cần liếc qua, Nguyễn Hiền đã thuộc làu. Ban đêm, không có tiền mua dầu thắp, chú tiểu Nguyễn Hiền bắt đom đóm, bỏ vào vỏ trứng làm đèn, nấu sử sôi kinh. Năm 11 tuổi, Nguyễn Hiền đã đọc hết pho sách của nhà chùa.

Nguyễn Hiền thi đình, đỗ trạng nguyên (tiến sĩ thứ nhất) lúc mới 13 tuổi. Tại lễ triều kiến các vị tân khoa, nhà vua Trần Thái Tông (1225-1258) thấy trạng quá nhỏ tuổi, bèn hỏi:

– Trạng nguyên học với ai?

– Thưa, tự học, chỗ nào không biết thì hỏi sư ông.

Thấy trạng chưa biết cách xưng hô, nhà vua lệnh cho trạng về quê quán, hẹn ba năm sau sẽ cho vào triều và được phong quan.

Cậu “trạng non” – dân làng quen gọi một cách thân mật – về quê, vẫn ở chùa và làm ruộng. Được ít lâu, sứ thần Tàu sang tấu trình nhà vua một bài thơ, thách nhân tài nước Nam giải.

Bài thơ 4 câu, 5 chữ, như sau:

Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành giang.

Vua và cả triều đình không ai giải nổi nghĩa. Vua phải sai quân quan đưa kiệu lọng cờ quạt vời Trạng Hiền vào triều. Vừa đến Thăng Long, Trạng Hiền vào chầu ngay. Chỉ liếc qua bài thơ, cậu trạng non liền nói:

– Câu đầu có hai chữ nhật (ngày). Đọc xuôi, đọc ngược, hai chữ đó đều bằng đầu nhau. Câu thứ hai, đọc ngược, đọc xuôi, đọc ngang, đọc dọc gì đi nữa thì cũng do bốn chữ sơn (núi) ghép lại mà thành. Câu thứ ba là hai chữ vương (vua). Hai chữ vương, đọc dọc và đọc ngang đều ở trong bốn cạnh. Bốn cạnh dính liền nhau tượng trưng biên giới của một nước. Câu thứ tư là bốn chữ khẩu (miệng), đọc ngang, đọc dọc cũng giống nhau. Bốn chữ khẩu dính vào nhau.

Tóm lại cả bốn câu thơ chỉ tả một chữ điền (ruộng).

Lời giải của ông trạng non làm cho cả triều đình mát mặt, còn sứ thần chỉ đành bái phục sự thông minh của người dân đất Việt.

——————————————————————–

Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền

Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền nằm ở khu trung tâm của thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, cách thành phố Nam Định 14km. Tại đây còn lưu giữ bài vị, nhiều sắc phong, câu đối, đại tự ca ngợi Trạng nguyên Nguyễn Hiền và đặc biệt là cuốn ngọc phả chép các sự tích về ông.

Nguyễn Hiền sinh năm Ất Mùi (1235) trong một gia đình nghèo với ngôi nhà 3 gian bé nhỏ, cạnh chùa làng Dương A. Nhà sư trụ trì chùa là một bậc danh nho, mở trường dạy học cho con em trong vùng. Ngay từ khi mới lẫm chẫm biết đi, Nguyễn Hiền đã thường xuyên sang chùa xem các bậc đàn anh học tập. Cậu đứng ngoài cửa sổ chăm chú lắng nghe tiếng học trò đọc bài, tiếng nhà sư giảng giải. Ngày ngày, chữ nghĩa cứ thấm dần vào cậu. Thấy một cậu bé ham mê chữ nghĩa, nhà sư đã nhận cậu làm học trò và cho vào lớp ngồi học. Nguyễn Hiền học rất thông minh, một trang sách chỉ đọc một lần là thuộc nên đã đọc được nhiều pho sách quý của nhà sư. Bởi thế mà tài học của Nguyễn Hiền vang xa khắp nơi, nhiều chí sĩ xa gần đến thử tài đều bái phục. Năm 11 tuổi đã nổi tiếng thần đồng.

Năm Đinh Mùi (1247), Nguyễn Hiền vừa tròn 12 tuổi cũng là lúc triều đình nhà Trần mở khoa thi Tam khôi để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa. Vì còn quá ít tuổi nên dân làng đã cử người đưa ông cùng lều chõng đi thi. Năm ấy ông đỗ đầu, được tặng 4 chữ vàng “Khai quốc Trạng nguyên”. Vua thấy Trạng còn quá trẻ nên cho về học lễ, vài năm sau sẽ bổ dụng. Không lâu sau, sứ giả phương Bắc sang có đố một bài thơ nhưng cả triều đình chẳng ai giải được. Nhà vua sai người về mời Trạng vào triều, Trạng giảng giải đó là bài thơ tả chữ “điền”, làm cho cả triều đình và sứ giả phương Bắc phải nể phục. Từ đó danh tiếng của Trạng vang lừng hai nước. Triều đình phương Bắc biết đất An Nam có người tài giỏi nên không dám sách nhiễu. Trạng được cử về triều giữ chức Ngự sử đài, kiêm Đông các đại học sĩ- bộ Công.

Những năm làm quan trong triều, Nguyễn Hiền có nhiều kế sách hay phò vua, giúp nước, đối phó với quân phương Bắc, đánh giặc cỏ ở Mường La. Ông mộ dân đi khai hoang phục hoá, đắp đê sông Hồng, đào kênh mương dẫn nước, tạo mùa màng thắng lợi, nhân dân no ấm. Về quân sự, ông cho mở mang các xưởng rèn vũ khí, các võ đường rèn luyện quân sĩ, sẵn sàng chiến đấu chống quân xâm lược.

Ngày 14 tháng 8 năm Ất Mão (1255), Nguyễn Hiền qua đời trong niềm thương tiếc vô hạn của muôn dân. Về sau, để tránh tên huý của ông, huyện Thượng Hiền được đổi thành huyện Thượng Nguyên, vua ban cho ông sắc phong là phúc thần, miễn tô thuế cho cả làng Dương A. Nhân dân nơi đây tỏ lòng tôn kính đã xây đền thờ ông, tôn làm thành hoàng làng, ngày ngày lễ bái.Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền được làm theo hướng tây nam với bình đồ kiến trúc kiểu “tiền chữ nhất, hậu chữ đinh”. Phía trước đền là hồ sen, xung quanh có nhiều cây cổ thụ xoè tán lá rộng che bóng mát. Hệ thống nghi môn có 4 cột đồng trụ. Hai cột ở giữa cao 7m, phía trên có khung bảng đắp nổi hoạ tiết tứ linh với những đường nét tinh tế, tạo thành cổng chính của đền, hai cột bên thấp, nhỏ hơn, hợp cùng với cột giữa tạo thành hai cột: tả môn, hữu môn.

Toà tiền đường được tu sửa vào cuối thời Nguyễn, gồm có 5 gian, 2 chái với 6 bộ vì làm theo kiểu “thượng chồng rường, hạ kẻ bẩy”, đặt trên 4 hàng cột. Bên dưới là những chân tảng đá với dáng thắt cổ bồng. Mặt trước của tiền đường có hệ thống cửa gỗ lim chân quay. Cửa ở gian giữa được làm trên con song dưới bức bàn, các gian bên là cửa con bài.

Toà đệ nhị 3 gian có hệ thống cửa gỗ lim chân quay chắc chắn. Cửa ở gian giữa có 6 cánh chạm bộ tranh tứ quý “tùng, cúc, trúc, mai”, chính giữa là hình lưỡng long chầu nguyệt. Toà này có mái cong, với các đầu bẩy chạm hoạ tiết lá lật, trúc hoá long khá công phu, hoạ tiết chạm khắc trên các bộ vì chủ yếu là triện tàu lá dắt.

Cung cấm có 2 gian, được làm giao mái với toà đệ nhị. Trên bộ vì có chạm hoạ tiết long cuốn thuỷ, tứ linh, tứ quý. Các cánh cửa của cung cấm đều làm bằng gỗ lim, chân quay, trên con song, dưới bức bàn. Tại chính cung có đặt ngai và bài vị thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền.

Trạng nguyên Nguyễn Hiền tuổi nhỏ tài cao, là bậc kì tài của đất nước, là người con ưu tú của quê hương. Trải qua bao năm tháng đổi thay, đền thờ ông vẫn được nhân dân trân trọng giữ gìn, trở thành địa điểm thể hiện niềm tự hào, tấm gương cho mọi thế hệ người dân. Trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc, nơi đây đã từng tiễn đưa bao lớp người dân lên đường chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Năm 1990, trường Năng khiếu huyện Nam Ninh (nay là huyện Nam Trực) được vinh dự mang tên Nguyễn Hiền.

Theo: Di tích lịch sử văn hóa Nam Định

Advertisements

Đã đóng bình luận.