TRUNG QUỐC – CON SỐ 5 GIỮA HÀ ĐỒ ?! Bùi Văn Bồng

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Kỳ 1:  QUỐC GIA “GIỮA GẦM TRỜI”

          Tên gọi “Trung Quốc” – nghĩa ban đầu theo cách viết tượng hình Hoa phồn thểHoa giản thể đều có một nét gạch dọc nằm giữa hình chữ nhật (quan niệm trời tròn đất vuông) được biểu thị là “vùng đất ở giữa”; nghĩa bóng là “quốc gia ở giữa gầm trời”, là con số 5 trong Hà Đồ, ý nói Trung Quốc là Trung tâm thế giới và các nước chung quanh kém văn minh phải chịu ràng buộc.
Tục truyền rằng: Đời vua Phục Hi có con Long Mã, hiện ra nơi sông Mạnh Hà, trên lưng có mang một hình đồ, và vì vậy gọi là Hà Đồ. Hà Đồ nguyên thuỷ có 55 điểm đen trắng. Hà Đồ, và Lạc Thư đều bàn về lẽ sinh thành của vũ trụ quần sinh, đều tuân theo quy luật vận hóa tụ-tán, tức là “cái lẽ tự nhiên”: Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, và Nhất Thể tán vạn thù, Vạn thù qui Nhất Thể, đều chủ trương Vạn vật phát xuất từ một Tâm Điểm, phóng phát ra ngoài, rồi cuối cùng lại qui hướng về Tâm Điểm ấy. Hà Đồ sinh Tiên Thiên Bát Quái, đi theo chiều thuận. Lạc Thư sinh Hậu Thiên Bát Quái, đi theo chiều nghịch. Thuận là Thuận chiều kim đồng hồ, Âm Dương không bao giờ chống đối lẫn nhau, lấy Tình thương yêu, nhân nghĩa làm tiêu chuẩn. Nghịch là ngược chiều kim đồng hồ, lấy mâu thuẫn, ghen ghét kình chống nhau làm căn bản. Bản nghĩa của Hà Đồ, Lạc Thư là thế, nhưng giới lãnh đạo Trung Nam Hải từ lâu chỉ chăm chắm một ý tưởng về con số 5 muốn bá chủ thiên hạ, hung hăng bành trướng, bá quyền, coi thiên hạ đều là hạng “chầu rìa”.
Suy cho cùng, trong lịch sử tiến hóa và phát triển của nhân loại, số học phương Tây và lý học phương Đông là sự giao hòa kết nối các nền văn minh thế giới, trên những cơ sở khoa học chuẩn theo lẽ tự nhiên và vũ trụ luận. Nếu như Trung Quốc đưa truyền thuyết vua Phục Hy ra để lý giải về Hà Đồ, thì sẽ giải thích thế nào về cấu trúc, hình khối kiểu dáng của Kim Tự Tháp ở Ai Cập, tượng khổng lồ ở đảo Phục Sinh, những di vật kỳ lạ về tri thức thiên văn của nền văn minh Maya? …
Trung Quốc tự vỗ ngực là Ngũ Hoàng Thổ…Một bài viết trên mạng Chinaheritagenewsletter còn khích lệ là “Nếu như Đông Nam Á chưa thuộc Trung Quốc thì ‘chúng ta’ còn nợ với lịch sử” (?!).

Theo truyền thuyết Trung Quốc, nhân đó vua Phục Hi  mới tạo ra Tiên thiên Bát quái và Lục thập Tứ quái. Lạc Thư, theo Kinh Thư, thời sau khi vua Đại Võ trị thuỷ thành công đã được Trời ban Lạc Thư cho, và nhân đó vua sáng chế ra “Hồng phạm Cửu trù”  tức là phép cai trị xã hội nhân quần. Văn Vương nhân đó tạo ra Hậu thiên Bát quái. Sau này các Đạo Gia nghiên cứu thêm và cho rằng Lạc Thư cũng còn dạy lẽ “Qui nguyên Phản bản” (gần nghĩa với hậu kết “trở về trời” mà dựa theo đó Trung Nam Hải tự mệnh danh là Thiên triều).
Trung Quốc gọi số 5 là số Trung ương (cờ có 1 sao lớn, 4 sao nhỏ chầu – 4 dân tộc chầu dân tộc Hán, 4 phương chầu quanh Trung Quốc). Trong Hà Đồ, dãy 9 chữ số thì số 5 ở giữa, cộng dọc, ngang, cộng chéo đều bằng 15, con số thành hội tụ âm-dương (như sắp xếp dãy số trên bàn phím điện thoại là “Hà đồ thuận thiên”, thứ tự 9 ô, từ 1-9; theo chiều kim đồng hồ, quan niệm số 0 là không khí, nằm ngoài. Sau này sinh ra nhiều dạng thức khác chung tụ là “Hà đồ biến thiên” ). Số 5 là cố định, là cái trụ, 8 số còn lại xoay vần theo luật Hậu thiên Bát Quái và Tiên thiên Bát quái. Các nhà nghiên cứu Đông-Tây kim cổ, âm-dương ngũ hành, nhất là những chuyên gia khảo cứu Chu dịch, Kinh dịch, kể cả “số học vận hóa” theo Hy Lạp, La Mã cổ đại đều khẳng định Trung Quốc từ bao đời nay vẫn tự coi họ là con số 5 giữa Hà Đồ.
Trung Quốc là Hoàng đế, Thiên triều, các nước chung quanh chỉ là chư hầu, chỉ được xưng thần. Ban đầu, tên gọi Trung Quốc có nghĩa hẹp hơn, như một nước đứng giữa, vị trí trung tâm, như chư “điền”, vùng đất chung quanh có bao bọc. Nhưng với lòng tham mở rộng cương thổ quốc gia “không ngừng rộng lớn”, Trung Quốc ngày nay mang nghĩa rộng hơn để chỉ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Ngày xưa, lãnh thổ Trung Quốc chủ yếu là vùng đất, Đại Lục. Lãnh thổ Trung Quốc theo bản đồ nhà Thanh chỉ đến cực Nam của đảo Hải Nam, hoàn toàn không có Hoàng Sa, Trường Sa, cũng không có cái “lưỡi bò” kỳ quái nằm chình ình trên Biển Đông như hiện nay.

       Trong suốt lịch sử từ khi thế lực đế quốc Đại Hán đi chinh phạt, thôn tính, xâm lược các nước láng giềng, Trung Quốc ngày càng lộ rõ lòng tham vô đáy, cậy quyền cậy thế, sự lừa lọc để vụ lợi nổi tiếng trên thế giới. Trung Quốc” cũng nhanh chóng chiếm các vùng đất phía Nam vượt qua các con sông lớn bao gồm Dương Tử Giang và Châu Giang, thành một thực thể văn hóa và chính trị (có lẽ không hợp lý khi gọi nó là một “nước” hay “quốc gia” theo nghĩa hiện đại); và đến thời nhà Đường nó còn thâu tóm cả các chế độ dã man như Hung Nô, Tiên Ti.
            Ngày nay CHNDTH quản lý Nội Mông, Tân CươngTây Tạng, còn Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) hiện nay cũng được coi là một bộ phận không thể tách khỏi của Trung Quốc, mặc dù việc chấp nhận hay phản đối vẫn còn là vấn đề chính trị gây tranh cãi, đặc biệt khi Trung Quốc đồng nghĩa với CHNDTH.
      Nhà sử học Vương Nhĩ Mẫn, Viện Hán học đã tìm ra năm nghĩa của chữ Trung Quốc trong các văn tự cổ từ thời nhà Hán trở về trước, theo đó Trung Quốc có ba nghĩa rõ rệt nhất là:
– Khu vực bao quanh thành phố chính, hay kinh thành. Khái niệm này đã được định nghĩa rất minh bạch trong Kinh Thi.
– Vùng đất dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhà cầm quyền trung ương. Sử ký Tư Mã Thiên có ghi: “Có tám ngọn núi nổi tiếng trong đế chế. Ba ngọn thuộc về các rợ Man và Di. Năm ngọn nằm ở Trung Quốc”.
– Khu vực ngày nay gọi là Bình nguyên Hoa Bắc. Tam quốc chí có ghi lại câu sau: “Nếu chúng ta có thể minh dẫn được những biểu hiện quân NgôViệt (thuộc khu vực phía nam Giang Tô – (sử ghi khi đó thuộc đất Văn Lang của Vua Hùng – Việt Nam) – và bắc Triết Giang để đối đầu với Trung Quốc, thì chúng ta nên sớm cắt đứt quan hệ với họ”.  Theo nghĩa này thì nó đồng nghĩa với vùng đất của người Hoa hay Hạ (thường goi chung là Hoa Hạ).
Hai nghĩa còn lại là: nước nằm ở giữa; các nước vai ngang nhau, để chỉ các nước thời Chiến Quốc.
Vào thời các nước phân tranh sau khi nhà Hán sụp đổ, tên gọi Trung Quốc thay đổi ý nghĩa khi các sắc dân du mục ở biên giới phía bắc trỗi dậy và chiếm được lưu vực sông Hoàng Hà, cái nôi của văn minh Trung Quốc. Chẳng hạn như người Tiên Ti gọi chế độ Bắc Ngụy (Man – phá ngang, giả dối – trong từ “man trá”) của họ là Trung Quốc, để phân biệt với Nam Triều, mà họ gọi là “Di”, nghĩa là “mọi rợ”. Nam Triều, về phía họ, sau khi tách khỏi phía bắc thì gọi Bắc Ngụy là “Lỗ”, nghĩa là “tội phạm” hay “tù binh”. Theo nghĩa này, Trung Quốc được dùng để thể hiện tính hợp pháp chính trị. Nó được các triều đại tranh giành nhau là Liêu, TấnTống dùng theo nghĩa này từ thế kỷ thứ 20 trở đi. Tên gọi Trung Quốc từ đó cũng được dùng để chỉ một thực thể địa lý, văn hóa và chính trị mà không nói đến nguồn gốc sắc tộc nữa.
          Trung Hoa Dân Quốc thời Tôn Trung Sơn (THDQ) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), khi quản lý đại lục Trung Hoa, đều sử dụng tên gọi Trung Quốc như là một thực thể tồn tại trên lý thuyết để chỉ tất cả các vùng đất và con người nằm trong (kể cả bên ngoài) tầm kiểm soát chính trị của nó. Trung Hoa Dân quốc thời Tưởng Giới Thạch sau năm 1949 thường dùng từ Trung Quốc là để chỉ THDQ thời Tôn Trung Sơn bao gồm cả Đại Lục và quần đảo Đài Loan, Hải Nam (gọi Đài Loan là để nói riêng về đảo quốc này). Ngày nay CHNDTH chính thức công nhận có 56 dân tộc và gọi chung là “Trung Quốc nhân”, tức “người Trung Quốc”. Và lịch sử của các dân tộc này hợp chung lại gọi là lịch sử Trung Quốc.
Trong các ngôn ngữ Tây phương, tên gọi Trung Quốc theo tiếng Anh và nhiều thứ tiếng khác cùng ngữ hệ dùng tên China (tiền tố Sino-…), mà nhiều người coi là tên xuất phát từ tên nhà Tần (Qin) là triều đại lần đầu tiên đã thống nhất Trung Quốc, mặc dù vẫn còn nhiều chi tiết cần làm rõ thậm chí nguồn gốc của nó còn nhiều tranh cãi. Mặc dù thực tế nhà Tần chỉ tồn tại rất ngắn và thường bị coi là cực kỳ tàn bạo, nhưng nó đã xác lập một kiểu chữ viết tượng hình thống nhất tại Trung Quốc và gọi người nắm quyền tối cao của Trung Quốc là “Hoàng đế”. Kể từ thời nhà Tần trở đi, những thương nhân trên “con đường tơ lụa đã sử dụng tên gọi “China”. Ngoài ra còn nhiều thuyết khác về nguồn gốc từ này.
Trong bất kể trường hợp nào, từ China đã đi vào nhiều ngôn ngữ dọc theo “con đường tơ lụa” trước khi nó truyền tới chấu Âu và Anh quốc. Từ China của phương Tây đã được người Nhật chuyển tự thành Chi Na từ thế kỷ 19, và trở thành một từ có tính chất đàm biếm trong tiếng Nhật.
Tên gọi China theo nghĩa hẹp chỉ Trung Quốc bản bộ, hoặc Trung Quốc bản bộ cùng Mãn Châu, Nội Mông, Tây Tạng, và Tân Cương, một kết hợp đồng nghĩa với thực thể chính trị Trung Quốc vào thế kỷ 20 đến nay; biên giới giữa các khu vực này cũng thay đổi theo “thâu tóm chinh phạt, xâm lấn”. Bình thường, trong văn cảnh kinh tế hay kinh doanh  thường dùng “Đại Trung Hoa địa khu” (như cái lưỡi sói) để chỉ Đại Lục Trung Quốc, thêm bao gồm cả Hồng Công, Áo Môn và Đài Loan.
Các nhà Trung Quốc học thường dùng Chinese theo một nghĩa hẹp gần với cách dùng kinh điển của Trung Quốc, hoặc để chỉ sắc dân “Hán“, là sắc dân chiếm đại đa số tại Đại Lục Trung Quốc.
Trong một số trường hợp thì tên gọi “Trung Quốc đại lục” rất thích hợp để chỉ Trung Quốc, đặc biệt khi để phân biệt với các khu vực có thể chế chính trị khác biệt như Hồng Công, Ma Cao, và các lãnh thổ do  chính quyền Đài Loan quản lý.
(còn tiếp)
(Kỳ 2: Tham vọng và cơ hội đoạt chiếm Biển Đông)
Advertisements

Đã đóng bình luận.