VQG Bidoup – Phát hiện loài Chổi sễ (Baeckea frutescens L.)

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 

Phát hiện loài Chổi sễ (Baeckea frutescens L.)
Phân bố tại khu núi Hòn Giao thuộc lâm phần của Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà, với quần thể lên tới vài trăm cá thể phân bố trên sườn núi đá có lớp đất mặt rất mỏng.

Qua đợt khảo sát Phòng Kỹ thuật và Nghiên cứu khoa học thuộc Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà phát hiện loài Chổi sễ (Baeckea frutescens L.) thuộc họ Sim (Myrtaceae),phân bố tại khu núi Hòn Giao thuộc lâm phần của Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà, với quần thể lên tới vài trăm cá thểphân bốtrên sườn núi đá có lớp đất  mặt rất mỏng. Núi Hòn Giao với đặc điểm mây mù bao phủ quanh năm, hệ sinh thái rừng lùn đỉnh núi với đai độ cao trên 1.600m so với mực nước biển.

 bidoup_10

Theo các tài liệu trước đây, đặc điểm sinh thái của loài Chổi sễ  là phân bố chủ yếu ở vùng cát ven biển, nơi có dộ pH chua và nghèo dinh dưỡng. Do vậy đây có thể xem là một phát hiện mới về phân bố loài này tại Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà.

Tuy nhiên, để có những đánh giá chính xác về đặc điểm sinh thái cũng như số lượng quần thể loài này cần có những nghiên cứu kỹ hơn.

 Nguồn: VQG Bi Doúp – Núi Bà

http://www.vnppa.org.vn/?m=news&a=page_newsdetail&newsid=1358&leveltwo=108&lang=vi

———————————————————————————————-

CÂY CHỔI XỂ


Cây Chổi xể
CÂY CHỔI XỂ
Herba Baeckeae

Tên khác: Chổi sể, Thanh cao, Cây chổi trện.

Tên khoa học: Baeckea frutescens L., họ Sim (Myrtaceae).

Mô tả: Cây bụi, phân nhánh nhiều, cao 50 – 150cm. Lá mọc đối, hình dải hay hình dùi dạng dải, dài 5 – 8mm, rộng 0,4 – 0,6mm, đầu nhọn, không lông, có tuyến mờ nâu, cuống rất ngắn.

Hoa mọc đơn độc ở nách lá, lưỡng tính, màu vàng trắng, đường kính cỡ 2 – 3mm; cuống hoa cỡ 1mm, mang ở giữa 2 lá bắc rất nhỏ, sớm rụng. Đài hoa hình ống, dài cỡ 1mm, chia 5 thùy hình tam giác, tồn tại; cánh hoa 5, gần tròn, dài cỡ 4mm; nhị 10, ít khi 8, ngắn hơn cánh hoa; bầu ha,̣ 3 ô, mỗi ô chứa 2 noãn.

Quả nang nhỏ, dài cỡ 1mm, mở theo đường rách ngang; hạt có cạnh.

Bộ phận dùng: Lá, phần trên mặt đất.

Phân bố: Cây mọc rất nhiều trên các đồi khô miền Trung Du, từ Hà Bắc, Quảng Ninh, Bắc Thái, Vĩnh Phú đến Thừa Thiên – Huế, Quang Nam – Ðà Nẵng, Phú Yên, thường mọc chung với Sim, Mua, Tràm, có khi mọc thành rừng.

Thu hái: 
Cây lúc đang có hoa, phơi hoặc sấy khô. Có thể cắt lấy tinh dầu mà dùng.

Thành phần hóa học: Toàn cây chứa tinh dầu màu vàng nhạt, thơm gần như dầu khuynh diệp với tỷ lệ 0,5-0,7%. Ở nước ta, tinh dầu Chổi chứa 35% a- thuyon và a- pinen, 4% limonen, 15% cineol, 11% ylangen. Tuỳ xuất xứ mà thành phần có thể khác nhau.

Công năng: Tán phong hàn, khai khiếu, giúp tiêu hoá, thông huyết mạch, sát khuẩn.

Công dụng: 

Thân, cành dùng làm chổi và cất dầu thơm để dùng trong y dược.

Người ta thường dùng cây đốt xông khói hoặc nấu nước xông chữa cảm cúm, nhức đầu, đau bụng, vàng da, sởi. Còn dùng chữa chảy máu cam, lở ngứa, kém tiêu, ỉa ra máu và kinh nguyệt không đều.

Rượu chổi dùng xoa bóp chữa thấp khớp. Hoa chổi dùng làm thuốc điều kinh và ăn uống kém tiêu.

Cách dùng, liều lượng: Sắc lá và hoa làm nước uống (6-8g). Đốt cây khô để xông, dùng tinh dầu xoa bóp.

Bài thuốc:

1. Chữa phong thấp đau xương, đau bụng lạnh dạ, nôn, ỉa, dùng cành và hoa lá Chổi 20-40g sắc uống. Ngoài dùng dầu Chổi xoa bóp hoặc dùng cành lá Chổi để đốt xông hơi.

2. Chữa chân thũng sưng hay lở ngứa; nấu nước cây Chổi để ngâm rửa.

3. Chữa kinh bế hay chậm thấy kinh, dùng hoa Chổi, lá Móng tay, mỗi vị 40g; Nghệ đen; Ngải máu, mỗi vị 10-20g sắc uống. Cấm dùng cho người có thai.

Advertisements

Đã đóng bình luận.