Daily Archives: 12/11/2012

Tiền bạc, Trí tuệ và Cảm xúc – Minh Đạt

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Tiền bạc, Trí tuệ và Cảm xúc

Minh Đạt


Trong tác phẩm “10 Bí quyết thành công của người Do Thái”, tác giả Lý Hạo, nhà nghiên cứu người Trung Hoa, có một phần rất hay bàn về Trí tuệ và Tiền bạc.

 

Người Do Thái có một chuyện vui cười nói về mối quan hệ giữa trí tuệ với tiền bạc. Có hai học giả nói chuyện với nhau. “Trí tuệ và tiền bạc cái nào quan trọng hơn?”, “Tất nhiên là trí tuệ quan trọng hơn!”, “Vậy tại sao người có trí tuệ lại phải làm việc cho người giàu có nhiều tiền bạc. Người giàu lại không phải phục vụ người có trí tuệ. Ai cũng đều thấy các học giả triết gia phải chiều lòng theo ý muốn các triệu phú, còn các triệu phú lại có thái độ trịch thượng đối với người có trí tuệ.”, “Người có trí tuệ biết được giá trị của tiền bạc, còn triệu phú liệu có luôn hiểu rõ giá trị của trí tuệ?”

Không thể cho rằng lời nói của học giả thiếu đạo lý bởi con người ta có biết được giá trị của đồng tiền mới đi làm việc cho nhà giàu. Chỉ những ai không biết giá trị của trí tuệ mới lên mặt đối với bậc trí giả. Nhưng ý nghĩa sâu xa của câu chuyện này như thế nào? Nó thể hiện ngay bản thân nghịch lý của câu chuyện.

Người có trí tuệ đã biết được giá trị của tiền bạc, vậy tại sao không dùng trí tuệ để kiếm tiền? Biết được giá trị của đồng tiền nhưng vẫn phải dựa vào sự phục vụ các triệu phú để kiếm sống. Trí tuệ như vậy có gì và còn đáng được coi trọng không?

Tuy trí tuệ của các học giả triết gia được gọi là “Trí Tuệ” nhưng không phải là trí tuệ thực sự, nó chỉ đơn thuần là Tri thức, nó không có quan hệ gì với đồng tiền. Trí thức phải chịu trước sự kiêu hãnh của đồng tiền sao có thể quan trọng hơn tiền bạc. Trái lại các triệu phú không có trí thức như học giả nhưng lại biết chi phối đồng tiền thu nhận được giá trị của nó. Họ có trí tuệ dựa vào đồng tiền để sai khiến trí tuệ của các học giả đó mới là trí tuệ thực sự. Trí tuệ này rõ ràng quan trọng hơn cả tiền bạc.

Người Do Thái đã đưa ra một khái niệm tổng quát về đồng tiền như sau: Đồng tiền sống có thể không ngừng sinh ra tiền mới, quan trọng hơn, trí tuệ chết không sinh ra tiền. Trái lại trí tuệ sống có thể sinh ra tiền, còn đồng tiền chết không thể sinh ra tiền mới. Trí tuệ hoá nhập với đồng tiền được gọi là trí tuệ sống. Đồng tiền hoá nhập với trí tuệ được gọi là đồng tiền sống. Rất khó để phân biệt ngôi thứ giữa trí tuệ sống và đồng tiền sống. Thực tế hai vấn đề này đồng thời là một nó chỉ là một sự kết hợp đầy đủ chặt chẽ giữa nhau.

Thể cùng tồn tại và đồng nhất giữa trí tuệ và tiền bạc là một tư tưởng đặc biệt của người Do Thái, điều đó giải thích vì sao các Doanh nhân Do Thái thành công. Điều đó cũng thể hiện người Do Thái rất coi trọng trí tuệ và cũng rất coi trọng đồng tiền.

Nhưng người Do Thái còn có một câu chuyện khác. Trên một chiếc tàu có rất đông hành khách, phần lớn đầu là thương gia giàu có, mang theo rất nhiều của cải, duy chỉ có một vị Học giả. Các thương gia tụ tập lại một chỗ, khoe khoang về tài sản của mình. Sau khi nghe xong, vị học giả nói: “Tôi mới là người giàu nhất, tạm thời tôi chưa trưng bày của cải cho các ông xem.” Trong chuyến đi biển đó, bọn cướp biển xông lên cướp sạch vàng bạc châu báu và mọi thứ của các thương gia.

Học vấn cao sâu của vị học giả được dân chúng ở cảng hâm mộ và ông bắt đầu mở lớp giảng dạy giáo lý trong nhà trường. Thời gian sau, vị học giả gặp lại các thương gia cùng đi thuyền khi trước, cảnh ngộ của họ rất thảm hại. Họ thấy ông được mọi người trọng vọng, lúc đó họ mới biết thứ tài sản mà ông đã nói trước đây. Họ cảm khái nói: ” Ngài nói đúng! Người có học thật vô cùng giàu có”. Người Do Thái cũng đã thể hiện rằng: Trí tuệ không thể bị tước đoạt và có thể luôn mang theo bên người, nên nó là thứ tài sản quan trọng nhất, quý báu nhất.

Tri thức, thứ được tích luỹ từ sách vở, tích luỹ từ trường lớp. Nó chưa được hấp thụ vào trong Trí óc, chưa được hấp thụ vào trong Trái tim, chưa thể chảy trong từng mạch máu, thấm đậm trong từng tế bào,… Thì nó chỉ là tri thức xuông. Giống như hình ảnh một con lừa bò đi chậm chạp và cõng trên lưng một kho tàng sách. Tri thức là ngoại vi, Trí tuệ là cái bên trong. Trí tuệ hấp thụ được từ cuộc sống, từ thất bại, từ thành công.

 

Trí tuệ là cái làm nên con người.

Trí tuệ là cái làm nên Con Người. Đó là hiện tại của Con Người. Thông qua Trí tuệ Con Người thực hiện chức năng sống. Và tất cả các hoạt động khoa học, tất cả các hoạt động kinh doanh, tất cả các hoạt động chính trị, hệ thống tôn giáo và các hoạt động tâm lý,… của Con Người đều dựa vào nền tảng chung đấy là Trí tuệ.

Advertisements

Hai Lễ Cầu Siêu cho DCC Ong Lắm Mật tại Sài Gòn. Không hiểu Trưởng Lê Mộng Ngọ … có thể vui được không!?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

* TIN VỀ LỄ CẦU SIÊU CHO CỤ ONG LẮM MẬT

Vào hồi 8 giờ ngày 09/11/2012 Khối Sinh hoạt BĐH HĐVN đã tổ chức một buổi LỄ CẦU SIÊU tại chùa PHƯỚC HẢI đường 3 tháng 2, Quận 10, TP HCM. Với sự tham dự của các Trưởng: Hoàng Thạch Quảng, Nguyễn Tiến Lộc, Trần Văn Hợp và một số huynh trưởng GHX, Trần Trọng Thảo, Trần Minh Thiện, Nguyễn Xuân An, Vũ Minh Tân, Song Nguyên (LĐ Bạch Đằng Huế), Trần Trung Phúc, Lê Ngọc Bưu (Tráng Trưởng Tây Sơn), Nguyễn Phước Ái Huy, Anh Chị Khắc Thực Anh Đào, Anh Chị Minh Mẫn Thùy Hương, Kim Anh, Trương Thụy Túy (LĐ Duy Tân), Lê Ngọc Hùng (Đạo Trưởng Non Nước), LT Phạm Quang Thùy, Lương Mậu Dũng, Đỗ Thanh Nga, Trần Xuân Bình, Võ Văn Nam, và dĩ nhiên không thể nào vắng mặt bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

Đặc biệt sau Lễ, Tr Trần Văn Hợp có trao lại một số “Thủ Bản huấn luyện” mà trước khi sang định cử ở Hoa kỳ (1990 DCC Lê Mộng Ngọ đã giao lại) – nay Tr Hợp tuổi già sức yếu nên trao lại cho Tr Tiến Lộc để tùy nghi sử dụng.

Người đưa tin: Sáo DT

 Cả 2 tin nầy từ nguồn: hxxp://giupich.org/news/taxonomy/term/4

TIN VỀ LỄ CẦU SIÊU & TƯỞNG NIỆM

CỐ TRƯỞNG DCC ONG LẮM MẬT LÊ MỘNG NGỌ

Sáng nay (11-11-2012), vào lúc 10 giờ 00 tại Chùa Quảng Hương Già Lam, 498/11 Lê Quang Định, Phường 1, Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh. Đã tổ chức trọng thể Lễ Cầu Siêu & Tưởng Niệm Cố Trưởng DCC Lê Mộng Ngọ. Với sự hiện diện của 102 huynh trưởng và tráng sinh trong đo có Trưởng Nguyễn Duy Thu Lương, Nguyễn Sử Khương, Ngô Văn Phương, Lương Hải, Nguyễn Xuân An, Bùi Tiến An, chị Trần Trung Du, Trưởng Trần Văn Hợp, Võ Văn Tất, Trần Trung Phúc, Phạm Thanh Hiệp, Trần Minh Thiện, Vương Thới Trung, Trưởng Vĩnh Công và phu nhân, Nguyễn Tuấn, Bùi Văn Đức, Trần Hà Nam, Đặng Thanh Long, Đỗ Thị Thanh Nga, Phạm Quang Thùy… đặc biệt có anh Peter Amstrong HĐ đại bàng (Eagle Scout) đại sứ lưu động của BSA nhân đi chuyến đi thăm hướng đạo sinh các nước Á châu cũng đã ghé đến dự Lễ.

Sau khi dự Lễ Cầu Siêu & Tưởng Niệm, Trưởng Phạm Văn Nhơn thay ban tổ chức ngõ lời cảm tạ các huynh trưởng đến thăm và dự lễ này. Bửa tiệc chay nấu theo phong cách Huế rất đậm đà trong khung cảnh thật đầm ấm.

Ra về lòng rộn rã niềm vui nhưng lòng bâng khuâng tự hỏi: “Chẳng lẻ đợi mỗi khi một Trưởng Lão lìa rừng anh em mới ngồi lại bên nhau ư. Nay mai các “Ổng” đi hết thì sao đây? Thôi, việc tối cần thiết bây giờ là gạt bỏ mọi bất đồng, chung sức chung lòng hợp nhất HĐ là hay hơn cả.

Tin từ Saigon của SDT

Tin từ Saigon của SDT

Xem tướng tay: Ngón áp út

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 Xem tướng tay: Ngón áp út

Ngón áp út thật dài, cao hơn ngón trỏ và có gút là người ưa cờ bạc nhưng cũng là bàn tay nghệ sĩ gặt hái nhiều thành công. Hay tò mò, tự tin, tự đề cao để lấn áp người khác. Nếu đầu ngón áp út cong mảnh khảnh thì ưa thẩm mỷ, có năng khiếu nghệ thuật.

Xem tướng tay: Ngón áp út

Read the rest of this entry

Tục lệ xăm mình của người Việt cổ

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Tục lệ xăm mình của người Việt cổ

Sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) viết như sau:

Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:

Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.

Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy.

Đặc biệt thời Trần, những thành viên thuộc đội quân Thánh Dực bảo vệ xa giá sẽ được xăm lên trán ba chữ Thiên Tử Quân (Quân đội Thiên Tử). Nghệ thuật này còn được thấy rõ rệt dưới triều đại này với việc xăm hai chữ Sát Thát (Giết giặc Tarta) trong thời kỳ kháng chiến chống Nguyên Mông, thể hiện sự quyết tâm đồng lòng chiến đấu, bảo vệ giang sơn của cha ông ta. Thường những người xăm trổ thời ấy đều là những chiến binh dũng cảm và can trường, họ xăm trổ để thể hiện sức chịu đựng và chí hướng của mình. Nhiều người dân cũng thường cũng xăm lên bụng những chữ Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc thể hiện tinh thần thượng võ.

Phương pháp

Cổ điển

Một số bộ lạc có tập tục tạo ra những hình xăm bằng việc vẽ lên da, mực xăm được làm từ bồ hóng hoặc than củi nghiền vụn, có thể bỏ vào xương động vật nghiền nát. Để tạo đường nét, nghệ sĩ gắn các mẩu tre hoặc kim khâu vào một cái que. Sau khi nhúng chúng vào sắc tố, họ dùng vồ đóng nhẹ chúng vào da.

Ở Ấn Độ và một số nước Nam Á, Trung Đông phổ biến tục xăm mình Mehndi với mực xăm đều được chiết xuất từ các bộ phận trên cây lá móng. Các gam màu khác nhau được chiết xuất từ các bộ phận khác nhau trên cây lá móng: lá, hoa hoặc cành. Lá, hoa hoặc cành lá móng được nghiền nhỏ thành bột sau đó trộn với nước nóng. Để có các gam màu khác, người ta đem pha trộn hợp chất này với bột một số lá cây khác, chẳng hạn lá chàm, lá chè xanh, bột cà phê, lá me, chanh, đường, thi thoảng có pha thêm một số loại dầu khác để tăng độ bền và bóng của màu.

Hiện đại

Năm 1891, nghệ thuật xăm đã sang trang mới khi Samuel O’Reilly ở thành phố New York sáng chế ra chiếc “máy khắc da chạy bằng điện” đầu tiên. Đây chính là cha đẻ của chiếc máy xăm vẫn sử dụng cho đến ngày nay.

Xăm mình là một trong những tục cổ nhất, tồn tại lâu nhất ở Việt Nam và phát triển mạnh vào thời nhà Trần.

Trong sách Việt sử giai thoại, Nguyễn Khắc Thuần viết: Một trong những tục cổ xưa nhất của người Việt là xăm mình, kéo dài đến cuối thế kỉ thứ XIII, đầu thế kỉ thứ XIV mới chấm dứt. Có người nói rằng, bởi tục này mà tên nước đầu tiên của người Việt là Văn Lang.
Tục xăm mình của người Việt cổ. Ảnh: internet
Tục xăm mình của người Việt cổ. Ảnh: internet
Về nguyên nhân xuất hiện của tục này, sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) chép: Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói: “Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại”. Thế rồi, nhà vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thủy quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy.
Nhằm khẳng định lý do xăm mình của người Việt cổ, Từ điển Lễ tục Việt Nam cũng ghi: Người Việt cổ từ 2000- 3000 năm trước có tục xăm hình những con thủy quái (rồng, rắn..) lên bụng, ngực, lưng, chân, tay…. Tương truyền, thuở xa xưa con người lặn lội vùng sông nước kiếm ăn, nên xăm hình lên người để không bị thủy quái làm hại và hòa nhập với động vật ở dưới nước, từ đó mới săn bắt được chúng.
Từ thời Lý – Trần trở đi, đặc biệt là vào thời nhà Trần, từ vua quan cho chí thần dân ai cũng thích xăm hình vào người và đối với những người trong hoàng tộc, phục dịch trong triều đình buộc phải xăm hình lên thân thể, coi đó như là một luật lệ phải thi hành. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293 – 1314) đã phản đối việc này, vì nhà vua rất sợ thợ châm kim vào da thịt mình, mặc dù Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã chuẩn bị để xăm cho Anh Tông. Chính vì thế, sau này, ai thích thì xăm chứ không là quy định nữa.
Theo sử liệu, để tỏ rõ ý chí quyết tiêu diệt giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn xã tắc, năm 1285, quan quân nhà Trần tất thảy đều xăm lên cánh tay hai chữ “Sát Thát” (giết quân Thát Đát, tức quân Mông Cổ). Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày 12, quân giặc đánh Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn, bắt được nhiều quân ta, thấy người nào cũng thích hai chữ “Sát Thát”” bằng mực vào cánh tay, tức lắm, giết hết”.
Không dừng ở đó, dưới vương triều Trần, những thành viên thuộc đội quân Thánh Dực bảo vệ xa giá thì xăm lên trán ba chữ Thiên Tử Quân (Quân đội Thiên Tử); hay dân chúng thì thường xăm lên bụng những chữ “Nghĩa dĩ quyên khu”, “hình vu báo quốc” thể hiện tinh thần thượng võ, vì việc nghĩa liều thân, báo đền ơn nước.
Như vậy, tục xăm mình của người Việt cổ không chỉ thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên, mà còn mang ý nghĩa quyết tâm chống địch; thậm chí là hình thức làm đẹp của người đương thời.
Theo Trường Sơn
Kiến thức

Vì sao người Việt cổ có tục xăm mình?

Về nguyên nhân xuất hiện của tục này, sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) viết như sau:

“Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:

– Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.

Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy.

Ở buổi đầu mở nước, mọi thứ vật dụng của dân chưa đủ. Dân phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ ống làm chiếu, lấy gạo nếp nấu rượu, lấy cây quang lang làm thức ăn, lấy cầm thú cá tôm làm mắm, lấy củ gừng làm muối, đao canh thuỷ chủng. Đất sản nhiều gạo nếp. Lấy ống bương thổi mà ăn. Làm nhà sàn mà ở để tránh cọp, chó sói làm hại. Cắt tóc ngắn để tiện vào rừng. Con mới vừa sinh ra thì lấy lá chuối lót cho nằm. Có người chết thì gõ vào cối không, cho xóm giềng nghe thấy để kéo nhau đến giúp. Con trai con gái lấy nhau, trước hết, dùng gói muối làm lễ hỏi rồi sau đó mới giết trâu, giết dê để ăn mừng thành vợ thành chồng. Cùng nhau đem cơm nếp vào buồng để ăn, vợ chồng mới thành thân, vì lúc đó trầu cau chưa có”.

Lời bàn: Chinh phục thiên nhiên vùng đồng bằng sông nước là cả một quá trình lâu dài, phức tạp và cực kì khó khăn. Hình ảnh những con thuồng luồng gây thương tích cho dân có lẽ chính là một trong những biểu hiện của sự phức tạp và cực kì khó khăn đó.

Dân gặp khó thì kêu vua, vua ân cần chỉ cho dân tất cả những gì mình biết. Lời chỉ dẫn ấy, đúng sai thế nào thì ta đã quá rõ, nhưng điều quan trọng hơn lại chính là ở chỗ, trên dưới như cha con một nhà, nghĩa tình đằm thắm biết là bao.

Bấy giờ, hễ người Việt là xăm mình, hễ ai xăm mình là người Việt. Bạn thích hay không thích tục xăm mình, đó là việc riêng của bạn, nhưng, trông lại ngàn xưa, xin bạn hãy ghi nhận cho rằng, chính tục ấy đã góp phần làm cho Hán và Việt biệt lập rõ ràng, và cũng chính nhờ sự biệt lập rõ ràng ấy, giờ này, bạn mới có thể ung dung mà nói: non sông ta…

Đời sống của cổ nhân ra sao, đoạn ghi chép ngắn ngủi trên kể cũng đã nói khá rõ. Kính thay, một thời chắt chiu cần mẫn, thương thay, một thời gian truân! Đi giữa giang sơn gấm vóc, xin chớ vô tâm quên tổ tiên ngàn đời. (Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo dục)

“Ngậm ngải tìm trầm” là gì ?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

 

“Ngậm ngải tìm trầm” là gì ?
Ngải là gì?
Ngải là một loại thảo dược, hầu hết đều thuộc họ gừng (Zingibecaceae), dân gian truyền tụng ngải dùng làm “bùa yêu, thuốc lú”, làm thuốc mê tín… có câu: “Không sơn mà gắn với hèo, không bùa, không ngải mà theo mới tình”.
Ngải mà dân đi rừng ở miền Trung nước ta thường dùng, có tên gọi nôm na là ngải mọi (hoặc ngải rừng), tên khoa học là Curuma Aromatica Salisb, loại thân thảo, cao khoảng một mét, có mùi thơm như long não. Người ta mài lấy tinh bột ngâm rượu xoa, trị đau nhức, tê thấp, nhất là sốt rét rừng…
Trầm là gì?

Read the rest of this entry

Tìm hiểu Nam và Bắc cực

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Ở Nam Cực và Bắc Cực có thực vật không?
Chúng ta đều biết Nam Cực và Bắc Cực là xứ sở của băng tuyết lạnh giá. Vùng trung tâm của 2 cực này khí hậu càng lạnh hơn. Ở đây mùa hạ rất ngắn; đa phần thời gian của 1 năm là mùa đông (khoảng hơn 8 tháng), quanh năm suốt tháng nước ở đây đóng băng và không thể tan ra được. Vậy theo bạn ở một vùng quanh năm băng tuyết, đại hàn như thế liệu có sự tồn tại của thực vật không? Read the rest of this entry

Clip thám hiểm Nam Cực của đoàn Việt Nam

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Clip thám hiểm Nam Cực của đoàn Việt Nam

Rời con tàu Clipper Adventure, 6 thành viên Việt Nam giương cao lá cờ đỏ sao vàng, bắt đầu cuộc thám hiểm lục địa lạnh nhất trái đất.

Đoàn thám hiểm của Việt Nam gồm 6 người (5 phụ nữ): Hoàng Thị Minh Hồng (trưởng đoàn), Nguyễn Lan Anh, Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Phương Ngân và Lê Tuấn.

Theo một thành viên đoàn thám hiểm Việt Nam, một số đoàn bạn cũng mang cờ nhưng không có cán nên phải cầm bằng tay, hoặc mượn tạm cán cờ Việt Nam. Suốt hành trình hai tuần thám hiểm Nam Cực (18/11-2/12), cờ đỏ sao vàng vì vậy lúc nào cũng tung bay rực rỡ trên nền tuyết trắng tinh.

Cuộc thám hiểm năm nay nhằm kỷ niệm 50 năm ngày Hiệp ước bảo vệ Nam Cực được ký kết (1/12/1959), gồm 47 thành viên của 18 quốc gia.

Dưới đây là clip chuyến đi do đoàn thám hiểm Việt Nam cung cấp:

Kiên Cường