Viêm âm hộ và âm đạo

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Viêm âm hộ và âm đạo

Nguồn: http://www.ykhoaviet.com/viewtopic.php?p=9190#p9190
Huyết trắng hay khí hư không phải là một bệnh mà là triệu chứng của Viêm âm hộ âm đạo (VAHAD) do vi trùng, ký sinh trùng hoặc vi nấm. Khi nghi ngờ mình bị VAHAD, các chị em không nên tự chữa trị mà cần đi khám chuyên khoa để có chẩn đoán chính xác và biện pháp điều trị hiệu quả.

1- Định nghĩa

Viêm âm hộ và âm đạo thường do nguyên nhân vi trùng, vi nấm hoặc ký sinh trùng.

2- Mô Tả

Viêm âm hộ âm đạo, viêm âm hộ và viêm âm đạo thường là những từ dùng để mô tả tình trạng viêm các bộ phận sinh dục ngoài của phụ nữ. Tình trạng này thường do vi trùng, vi nấm hoặc ký sinh trùng. Ngoài ra viêm âm hộ âm đạo (VAHAD) còn do lượng estrogen thấp (viêm teo âm đạo) hoặc do đáp ứng dị ứng hoặc kích ứng với các chất như kem diệt tinh trùng, bao cao su, xà phòng hoặc tắm bồn với sữa tắm.

Thông thường, VAHAD gây tiết dịch âm đạo (huyết trắng), kích ứng, và ngứa. Một trong những nguyên nhân khiến phụ nữ đi khám bệnh nhiều nhất là sự thay đổi của dịch tiết âm đạo. Dịch tiết âm đạo của phụ nữ là một hiện tượng sinh lý bình thường. Lượng dịch tiết và độ quánh của dịch thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt. 3 typ VAHAD thường gặp nhất sẽ được mô tả riêng biệt sau đây.

3- Viêm âm đạo do vi trùng

Vi trùng là nguyên nhân gây viêm âm đạo thường gặp nhất trong thời kỳ sinh sản của phụ nữ. 40 đến 50% các trường hợp viêm âm đạo (VAD) là do vi trùng. Tỉ lệ viêm âm đạo do vi trùng (VADVT) thật khó xác định nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 10%-41% phụ nữ đã bị VADVT ít nhất một lần trong đời. VADVT gặp nhiều nhất ở những phụ nữ có nhiều bạn tình và thấp nhất ở phụ nữ chưa quan hệ tình dục. VADVT không được xem là một bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) cho dù người bệnh có thể mắc bịnh qua quan hệ tình dục.

VADVT không do một loại vi trùng đặc biệt nào gây ra mà là hậu quả của sự mất cân bằng trong quần thể vi khuẩn bình thường của âm đạo. 90% vi khuẩn tìm thấy trong âm đạo bình thường thuộc họ Lactobacillus. Vì những nguyên nhân chưa rõ, có sự thay đổi của quần thể vi khuẩn dẫn đến ưu thế phát triển của các loại vi khuẩn khác. Bịnh nhân VADVT có số lượng vi trùng như Gardnerella vaginalis, Mycoplasma hominis, Bacteroides, và Mobiluncus rất nhiều trong âm đạo. Các vi trùng này được tìm thấy với số lượng từ gấp100 đến 1000 lần so với âm đạo bình thường. Ngược lại, vi khuẩn Lactobacillus lại hiện diện với số lượng rất ít hoặc hoàn toàn không có ở VADVT.

4- Viêm âm hộ âm đạo do vi nấm

20- 25% trường hợp VAHAD là do nấm Candida . Khoảng 75% phụ nữ bị nhiễm nấm âm đạo ít nhất một lần. 80-90% trường hợp, VAHAD do nấm Candida là do sự phát triển quá mức của nấm Candida albicans. Dùng kháng sinh bừa bãi sẽ diệt các vi khuẩn cộng sinh có ích trong âm đạo và gây ra sự bùng phát của vi nấm Candida.

Hình ảnh
Candida albicans

VAHAD do Candida không được xem là bệnh lây truyền qua đường tình dục vì nấm Candida có thể tìm thấy ở âm đạo bình thường. Bệnh hiếm khi gặp ở bé gái trước tuổi dậy thì và phụ nữ độc thân. VAHAD do vi nấm thường gặp ở phụ nữ có thai, đái tháo đường không kiểm soát, dùng thuốc tránh thai hoặc dùng nhiều kháng sinh

Hình ảnh
Candida albicans

5- Bệnh do Trichomonas

Hình ảnh
Trichomonas vaginalis trên KHV điện tử

Trichomonas chiếm 15-20% các trường hợp viêm âm đạo. Ước tính có khoảng 120 triệu phụ nữ nhiễm Trichomonas trên toàn thế giới. Khác với 2 loại VAHAD đã mô tả ở như trên, bệnh do Trichomonas được xem là một bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bệnh do Trichomonas xảy ra ở cả nam lẫn nữ và nguyên nhân là do nhiễm ký sinh trùng đơn bào Trichomonas vaginalis. Nhiễm Trichomonas vaginalis thường kết hợp với những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác bao gồm cả HIV gây bệnh AIDS.

6- Nguyên nhân và triệu chứng

VAHAD thường gây ra bởi vi trùng, vi nấm hoặc ký sinh trùng như đã mô tả ở trên. Một số vi sinh vật khác cũng có thể gây VAHAD. Ngoài ra VAHAD còn do nguyên nhân dị ứng, kích ứng, tổn thương, lượng oestrogen thấp và một số bệnh lý khác. Các yếu tố nguy cơ khác gây VAHAD bao gồm dụng cụ tử cung (IUD), quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, tiền sử bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nguy cơ VAHAD do Candida bao gồm tiền sử nhiễm Candida, giao hợp thường xuyên, dùng thuốc tránh thai, có thai, bệnh AIDS, dùng nhiều kháng sinh hoặc corticoids, đái tháo đường, thụt rửa âm đạo thường xuyên, dùng nhiều thuốc rửa vệ sinh phụ nữ, mặc quần áo chật, sử dụng tampon âm đạo (vaginal sponge) hoặc dụng cụ tử cung (IUD).

Các triệu chứng điển hình của VAHAD là: dịch tiết âm đạo (huyết trắng), ngứa, và kích ứng. Triệu chứng có thể nặng hoặc nhẹ tuỳ theo từng người.

– Triệu chứng chính của VAHAD do vi trùng là dịch tiết âm đạo có mùi tanh cá, loãng, trắng đục hoặc xám, kèm theo ngứa và cảm giác nóng rát. Sau giao hợp, mùi tanh cá sẽ nặng hơn.

– Các triệu chứng của VAHAD do Candida bao gồm ngứa, rát, giao hợp đau, và dịch tiết âm đạo đặc, đóng cục, màu trắng.

– Triệu chứng của VAHAD do Trichomonas là: tiểu buốt, giao hợp đau, dịch tiết âm đạo màu vàng xanh hoặc xám, hôi thối, đôi lúc có bọt.

7- Chẩn Đoán

Hình ảnh

Chẩn đoán VAHAD là do bác sĩ. Bác sĩ sẽ lấy mẫu dịch tiết âm đạo (huyết trắng) để xét nghiệm và phân tích dưới kính hiển vi. Soi tươi dưới kính hiển vi sẽ cho kết quả ngay, xét nghiệm cấy vi trùng phải 2 đến 3 ngày mới có kết quả. Chẩn đoán sẽ khó khăn nếu VAHAD do nhiều nguyên nhân cùng một lúc. Khi nghi ngờ bị VAHAD phụ nữ cần đi khám bệnh để có chẩn đoán chính xác. Không nên tự ý sử dụng các thuốc bán không cần kê toa để trị “huyết trắng” nếu chưa được bác sĩ chuyên khoa phụ sản thăm khám.

– 4 dấu hiệu chính của VAHAD do vi trùng (tiêu chuẩn Amsel) là: dịch tiết loãng, trắng đục dính vào thành âm đạo, mùi tanh cá, pH âm đạo > 4.5, và sự hiện diện của tế bào biểu mô âm đạo bao phủ bởi vi khuẩn gây bệnh (clue cells).

– Chẩn đoán VAHAD do Candida dựa trên pH âm đạo bình thường (4 đến 4.5) và sự hiện diện của tế bào vi nấm trong mẫu dịch tiết âm đạo và sau nuôi cấy ở phòng xét nghiệm.

– Mùa Xuân 2004, Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) đã phê chuẩn một test nhanh để chẩn đoán nhiễm Trichomonas. Kết quả có sau 10 phút. Chẩn đoán nhiễm Trichomonas khi soi tươi tìm thấy ký sinh trùng trong dịch tiết âm đạo hoặc sau nuôi cấy ở phòng xét nghiệm.

– Trichomonas thường không được chú ý chẩn đoán ở đàn ông vì ít gây triệu chứng và vì chưa có xét nghiệm chẩn đoán nào có độ nhạy cao. Gần đây, việc sử dụng xét nghiệm khuếch đại DNA cho thấy tỉ lệ nhiễm Trichomonas ở đàn ông cao hơn rất nhiều so với những hiểu biết trước đây.

8- Điều Trị

Điều trị VAHAD do bất kỳ nguyên nhân nào cũng nên do bác sĩ chuyên khoa quyết định. Không nên dùng các thuốc bán không cần toa vì dễ gây kháng thuốc và làm cho chẩn đoán gặp nhiều khó khăn về sau. Viện Nghiên Cứu Dịch Tễ Học Mỹ tổng hợp số liệu do 390 bác sĩ chuyên khoa Phụ Sản cung cấp cho thấy có đến 44% phụ nữ được chẩn đoán VAHAD do vi trùng đã tự mua thuốc kháng nấm để điều trị trước khi đi thăm khám.

– VAHAD do vi trùng cần được điều trị mỗi ngày bằng metronidazole (Flagyl, Protostat) hoặc clindamycin (Cleocin) liên tục một tuần (thuốc uống hoặc kem bơm vào âm đạo).

– VAHAD do Trichomonas được điều trị bằng metronidazole liều cao uống một lần duy nhất hoặc liều trung bình uống ngày 2 lần liên tục một tuần. Bạn tình nam của bệnh nhân cũng cần được điều trị cùng lúc để tránh lây lan trở lại.

Hình ảnh
Trichomonas vaginalis

– VAHAD do Candida thường được điều trị bằng các gel, kem, hoặc thuốc đạn đặt thẳng vào âm đạo. Các thuốc kháng nấm thường dùng để trị VAHAD do Candida bao gồm fluconazole đường uống (Diflucan), butoconazole (Femstat), clotrimazole (Gyne-lotrimin, Mycelex), miconazole (Monistat), and ticonazole (Vagistat). Thuốc sẽ có hiệu quả sau vài ngày. Phụ nữ nhiễm Candida đã tái phát nhiều lần cần được điều trị trong nhiều tuần, kết hợp với điều trị phòng ngừa dài hạn.

9- Điều Trị Hỗ Trợ

Tập trung vào việc tái tạo lại môi trường cân bằng về vi khuẩn bình thường của âm đạo. Lactobacillus acidophilus và L. bifidus được khuyên dùng.

Có thể dùng đường uống hoặc bơm trực tiếp vào âm đạo. Bơm thụt rửa âm đạo bằng acid boric có thể giúp acid hoá pH âm đạo để ngăn chặn sự phát triển của những vi khuẩn gây bịnh. Đối với trường hợp viêm teo niêm mạc âm đạo, đặc biệt ở phụ nữ mãn kinh, dùng kem có chứa progesterone thoa tại chỗ có thể giảm bớt các triệu chứng do niêm mạc âm đạo mỏng đi gây nên.

Thay đổi chế độ ăn và bổ sung thêm chất dinh dưỡng cũng có thể giúp ích cho việc điều trị VAHAD. Các vitamin chống oxy-hoá, bao gồm A, C, E, và các vitamin nhóm B, vitamin D, được khuyên dùng. Các thực phẩm tránh dùng bao gồm phô mai, rượu, chocolat, nước tương, đường, dấm, thực phẩm lên men. Nên mặc quần lót rộng rãi, bằng vải coton cho âm hộ-âm đạo được khô ráo mát mẻ, giúp phòng tránh một số thể VAHAD.

10- Tiên Lượng

VAHAD là một bệnh có triệu chứng nhẹ. Đa số phụ nữ đáp ứng tốt với điều trị. Những viêm nhiễm ở âm đạo, nếu không được điều trị đúng mức sẽ dẫn đến những biến chứng như viêm phần phụ (pelvic inflammatory disease), viêm nội mạc tử cung, nhiễm trùng sau phẫu thuật.

11- Phòng Ngừa

Nhiễm trùng âm hộ – âm đạo có thể được phòng tránh bằng những biện pháp sau:

+Không được sử dụng những thuốc điều trị vi nấm bán không cần toa nếu chưa được chẩn đoán chính xác nhiễm nấm candida âm đạo.
+Tránh thụt rửa âm đạo nhiều vì sẽ gây rối loạn cân bằng vi sinh vật và tạo điều kiện cho chúng xâm nhập lên tử cung và phần phụ.
+Lau khô người và tránh mặc quần áo ướt sau khi tắm.
+Tránh trang phục quá chật. Nên dùng quần lót bằng vải coton.
+Rửa sạch màng ngăn âm đạo, nắp chụp cổ tử cung, các dụng cụ dùng để bơm thuốc diệt tinh trùng sau khi sử dụng. Nên dùng bao cao su để phòng tránh những bịnh lây truyền qua đường tình dục.
+Sau khi đi tiêu nên lau chùi từ phía trước ra sau để tránh đem vi trùng từ phân vào âm đạo.
+Tránh nịt vớ (panty hose) để phòng tránh VAHAD

Hình ảnh
Tampon âm đạo

+Nên tránh dùng vaginal sponge (tampon âm đạo) để phòng tránh VAHAD

Albatros (diendanykhoa.com)
Tài Liệu Tham Khảo

Pelletier, Kenneth R., MD. The Best Alternative Medicine, Part II, “CAM Therapies for Specific Conditions: Vaginitis.” New York: Simon & Schuster, 2002.
Ching, Susanne, and Phuong H. Nguyen. “Vaginitis.” eMedicine April 5, 2002. http://emedicine.com/med/topic2358.htm.
Cohn, S. E., and R. A. Clarke. “Sexually Transmitted Diseases, HIV, and AIDS in Women.” Medical Clinics of North America 87 (September 2003): 971-995.
Dunne, R. L., L. A. Dunn, P. Upcroft, et al. “Drug Resistance in the Sexually Transmitted Protozoan Trichomonas vaginalis.” Cell Research 13 (August 2003): 239-249.
“Fast Tests for Trichomonas and BV.” Contemporary OB/GYN May 2004: 32-34.
Lowe, N. K., and N. A. Ryan-Wenger. “Military Women’s Risk Factors for and Symptoms of Genitourinary Infections During Deployment.” Military Medicine 168 (July 2003): 569-574.
Pirotta, M. V., J. M. Gunn, and P. Chondros. “‘Not Thrush Again!’ Women’s Experience of Post-Antibiotic Vulvovaginitis.” Medical Journal of Australia 179 (July 7, 2003): 47-49.
Schwebke, J. R., and E. W. Hook, 3rd. “High Rates of Trichomonas vaginalis Among Men Attending a Sexually Transmitted Diseases Clinic: Implications for Screening and Urethritis Management.” Journal of Infectious Diseases 188 (August 1, 2003): 465-468.
Centers for Disease Control and Prevention. 1600 Clifton Rd., NE, Atlanta, GA 30333. (800) 311-3435, (404) 639-3311. http://www.cdc.gov.

VIÊM ÂM HỘ ÂM ĐẠO (VULVOVAGINITIS) Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

I/ DỊCH TỄ HỌC

  • Viêm âm hộ-âm đạo (vulvovaginitis) chịu trách nhiệm 10 triệu thăm khám thầy thuốc mỗi năm ở Hoa Kỳ và là triệu chứng phụ khoa thông thường nhất ở các thiếu nữ trước tuổi dậy thì.
  • Viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) là nguyên nhân thông thường nhất của khí hư hôi thối và hầu như chỉ được thấy nơi các phụ nữ đang trong thời kỳ hoạt động sinh dục.Viêm âm đạo do vi khuẩn liên kết với chuyển dạ sớm và vỡ màng ối sớm.
  • Viêm âm đạo do candida (candida vaginitis) gây bệnh cho 75% những phụ nữ, ít nhất một lần suốt trong những năm sinh đẻ. Những yếu tố liên kết với tỷ lệ nấm xâm nhập gồm có thai nghén, dùng thuốc ngừa thai bằng đường miệng, bệnh đái đường không được điều trị. Viêm âm đạo do nấm candida hiếm gặp nơi các cô gái trước tuổi dậy thì và có tỷ lệ gây mắc bệnh giảm sau thời mãn kinh nếu điều trị thay thế bằng hormone không được sử dụng.
  • Viêm âm đạo do trichomonas là một trong những nguyên nhân của bệnh lây truyền bằng đường sinh dục (STD : sexually-transmitted disease) và gây bệnh cho từ 2 đến 3 triệu phụ nữ mới năm. Tỷ lệ lưu hành tương quan với toàn bộ hoạt động tình dục. Bệnh viêm âm đạo do trichomonas được liên kết với sinh non và vỡ màng ối sớm. 70% đàn ông và 85% phụ nữ giao hợp với một bạn đường bị nhiễm trùng, phát triểm nhiễm trùng trichomonas. Có tỷ lệ mắc bệnh lậu (gonorrhea) cao nơi các phụ nữ với nhiễm trùng trichomonas.
  • Herpès sinh dục (genital herpes) được lây truyền bằng đường sinh dục và là nguyên nhân thông thường nhất của các thương tổn đau đớn của đường sinh dục dưới, nơi các phụ nữ Hoa Kỳ.

II/ SINH LÝ BỆNH LÝ

  • Sinh lý bệnh lý của viêm âm hộ-âm đạo có liên quan với viêm các mô của âm hộ và âm đạo. Các nguyên nhân gồm có nhiễm trùng, các chất kích thích (irritants) và các dị ứng nguyên (allergens), các vật lạ, và sự teo (atrophy)
  • Ở nơi những phụ nữ đang tuổi sinh đẻ, estrogen gây nên sự phát triển một lớp biểu mô âm đạo dày, với các kho dự trữ glycogen nâng đỡ một khuẩn chí (flora) bình thường. Glycogen được lactobacilli và acidogenic corynebacteria biến hóa thành lactic acid và acetic acid, tạo nên một môi trường acide (pH : 3,5 đến 4,1), ngăn cản sự tăng trưởng của các vi khuẩn sinh bệnh.
  • Các nguyên nhân của viêm âm hộ-âm đạo do nhiễm trùng (infectious vulvovaginitis) gồm có bệnh trichomonas (trichomoniasis) gây nên bởi trichomonas vaginalis ; viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis), được gây nên do sự thay thế khuẩn chí bình thường bởi một tăng sinh của các vi khuẩn kỵ khí (anaerobes) và Gardnerella vaginalis ; các bệnh nấm do candida (candidiasis), thường được gây nên bởi candida albicans.
  • Viêm da do tiếp xúc (contact dermatitis) xảy ra là do sự tiếp xúc của biểu mô âm hộ và niêm mạc âm đạo với các chất kích thích hoá học hay các dị nguyên. Nhiễm trùng thứ phát có thể xảy ra.
  • Các vật lạ để lại tại chỗ hơn 48 giờ có thể gây nên nhiễm trùng tại chỗ nghiêm trọng do Escherichia Coli, các vi khuẩn kỵ khí, hoặc do sự tăng sinh khuẩn chí âm đạo bình thường khác.
  • Viêm âm đạo teo (atrophic vaginitis) trong thời kỳ bắt đầu kinh nguyệt (menarche), thai nghén, cho con bú, và sau mãn kinh là do thiếu kích thích niêm mạc âm đạo bởi estrogen, dẫn đến teo biểu mô lát và làm gia tăng pH âm đạo.

III/ LÂM SÀNG

  • Viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) gây khí hư và ngứa âm đạo. Dấu hiệu thăm khám biến thiên từ đỏ nhẹ âm đạo đến khí hư màu xám trắng, có bọt.
  • Viêm âm đạo do candida (candida vaginitis) gây khí hư âm đạo, ngứa dữ dội, tiểu khó, và giao hợp đau. Khám cho thấy đỏ và phù âm hộ và âm đạo và một khí hư đặc như “phó mát trắng” (“cottage cheese”).
  • Viêm âm đạo do trichomonas (trichomonas vaginalis) gây khí hư âm đạo, kích thích vùng hội âm, tiểu khó, spotting, và đau vùng chậu (pelvic pain). Khám cho thấy đỏ âm đạo và một khí hư có bọt, hôi thối.
  • Herpes sinh dục (genital herpes) gây nên những mụn nước đau đớn, đầy dịch, tiến triển thành những vết loét có đáy nông. Các triệu chứng tại chỗ gồm có tiểu khó và đau vùng chậu. Những triệu chứng toàn thân sốt, khó ở, đau đầu, và đau cơ là thường xảy ra .
  • Viêm âm hộ-âm đạo do tiếp xúc (contact vulvovaginitis) gây ngứa và một cảm giác buốt. Khám cho thấy một vùng âm hộ-âm đạo phù và đỏ.
  • Những vật lạ âm đạo có thể gây nên một khí hư có máu và hôi thối. Khám thường cho thấy vật lạ.
  • Viêm âm đạo teo (atrophic vaginitis) gây đau nhức âm đạo, giao hợp đau, và đôi khi spotting hay khí hư. Khám cho thấy một niêm mạc âm đạo mỏng, viêm và ngay cả loét.

IV/ CHẨN ĐOÁN VÀ CHÂN ĐOÁN PHÂN BIỆT

  • Nên làm một bệnh sử phụ khoa chi tiết và nên thực hiện một thăm khám phụ khoa.
  • Khám dưới kính hiển vi các chất dịch âm đạo, sử dụng nước muối sinh lý (làm thấy rõ các clue cells đối với viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) và trichomonas vaginalis đối với bệnh trichomonas (trichomoniasis) và dung dịch KOH 10% ( làm thấy rõ men hay pseudohyphae đối với bệnh nấm candida (candidiasis) và mùi cá đối với viêm âm đạo do vi khuẩn ), sẽ thường mang lại chẩn đoán.
  • Các chất tiết nên được trắc nghiệm xác định pH, dùng giấy nitrazine. Một pH lớn hơn 4,5 là điển hình cho viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) hay bệnh trichomonas. Một pH dưới 4,5 là điển hình cho khí hư sinh lý hay một nhiễm trùng nấm
  • Theo CDC (Centers for Disease Control), viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) được chẩn đoán bởi 3 trong các tiêu chuẩn sau đây :
    1. Khí hư
    2. pH > 4,5
    3. Mùi cá khi dung dịch KOH 10% được thêm vào khí hư (kết quả trắc nghiệm amine dương tính), và các clue cells, những tế bào biểu mô với các đám vi khuẩn dính vào bề mặt, được nhìn thấy trên chế phẩm nước muối ướt.
  • Viêm âm đạo do candida được chẩn đoán dưới kính hiển vi bởi sự hiện diện của các chồi men (yeast buds) và pseudohyphae. Dùng một dung dịch KOH 10% sẽ làm tan các tế bào biểu mô, làm cho những tìm kiếm được thấy dễ hơn. Độ nhạy cảm là 80%.
  • Bệnh nấm trichomonas (trichomoniasis) được chẩn đoán dưới kính hiển vi bởi sự hiện diện của các trichomonas di động, hình trái lê, có chiên mao (flagellated). Những trichomonas này hơi lớn hơn các bạch cầu. Độ nhạy cảm là 40% đến 80%.
  • Herpes sinh dục (genital herpes) được chẩn đoán căn cứ trên sự nghi ngờ về mặt lâm sàng và được xác nhận hoặc bởi cấy hoặc bởi polymerase chain reaction của dịch lấy từ vết loét hay mụn nước.
  • Viêm âm hộ-âm đạo do tiếp xúc (contact vulvovaginitis) được chẩn đoán bằng cách loại trừ một nguyên nhân nhiễm trùng và nhận diện một tác nhân xâm phạm.

V/ XỬ TRÍ Ở PHÒNG CẤP CỨU

  • Viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis)
    • Được điều trị với metronidazole ( Flagyl) 500mg, bằng đường miệng, hai lần mỗi ngày, trong 7 ngày, hay clindamycin ( Dalacin C) 300mg, bằng đường miệng, hai lần mỗi ngày, trong 7 ngày.
    • Tất cả các bệnh nhân có triệu chứng nên được điều trị bất kể tình trạng thai nghén.
    • Tất cả các phụ nữ có thai, đặc biệt là những người có nguy cơ cao sinh non, nên được điều trị bởi vì tác động âm tính do nhiễm trùng này ảnh hưởng lên thai nghén. Không cần điều trị đối với các bạn đường phối ngẫu nam hay các phụ nữ không có triệu chứng.
    • Nếu bệnh nhân ở trong tam cá nguyệt đầu của thai nghén, hãy điều trị với metronidazole 0,75%, cho bằng đường âm đạo, hai lần mỗi ngày trong 5 ngày.
  • Đối với bệnh nấm do trichomonas (trichomoniasis).
    • metronidazole 2g cho bằng đường miệng với một liều duy nhất, là trị liệu lựa chọn ( hay 500 mg bằng đường miệng, hai lần mỗi ngày, trong 7 ngày).
    • Metronidazole gel ít hiệu quả hơn, chữa lành dưới 50% các trường hợp.
    • Metronidazole cho bằng đường miệng vẫn được xem là một tác nhân class C trong thai nghén, và nhiều nhà lâm sàng tránh điều trị với thuốc này trong tam cá nguyệt đầu.
    • Tuy nhiên CDC vạch rõ rằng nhiều công trình nghiên cứu về sử dụng metronidazole trong thời kỳ thai nghén đã không chứng tỏ một liên kết với những tác dụng sinh quái thai hay sinh biến dị
  • Viêm âm đạo do candida
    • Được điều trị với imidazoles dùng tại chỗ: butoconazole (Gynomyk), clotrimazole (Canestene Gyn Clotrimazole), hay miconazole (Gyno-Daktarin), crème đặt tại chỗ trong 3 đến 7 ngày.
    • Cách điều trị khác, nơi bệnh nhân không mang thai là fluconazole (Diflucan) 150 mg bằng đường miệng.
    • Điều trị bạn đuờng phối ngẫu không cần thiết trừ phi có viêm quy đầu do candida (candidal balanitis).
  • Herpes sinh dục
    • Được điều trị bởi các tác nhân chống virus trong vòng 1 ngày từ khi khởi phát các triệu chứng, giúp kiểm soát các triệu chứng và làm gia tốc sự lành các thương tổn .
    • Điều trị không chữa lành và không ảnh hưởng tần số và độ nghiêm trọng của những tái phát.
    • Các bệnh nhân với bệnh nặng có thể cần nhập viện để điều trị bằng đường tĩnh mạch.
    • Những thuốc chống đau cho bằng đường tổng quát cũng có thể cần đến.
  • Viêm âm hộ-âm đạo do tiếp xúc (contact vulvovaginitis)
    • Được điều trị bằng cách loại bỏ tác nhân xâm phạm.
    • Tắm ngồi nước ấm và gạc ướt boric acid hay dung dịch Burow pha loãng có hể làm giảm phần nào.
    • Corticosteroids dùng tại chỗ cũng có thể được sử dụng để làm giảm các triệu chứng và xúc tiến sự lành bệnh.
  • Các vật lạ âm đạo
    • Cần được lấy đi vật lạ. Không cần đến trị liệu khác.
  • Viêm âm đạo teo (atrophic vaginitis)
    • Được điều trị với crème estrogen dùng tại chỗ hay thuốc viên. Sử dụng ban đêm trong 1 đến 2 tuần sẽ làm giảm các triệu chứng.
    • Estrogen không nên được sử dụng nếu có một tiền sử ung thư của bất cứ cơ quan sinh dục nào hay nếu có xuất huyết sau mãn kinh. Nên gởi đi thăm khám thầy thuốc phụ khoa.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/10/2008)Reference :Emergency Medicine, just the facts

Advertisements

Đã đóng bình luận.